Cù lao Phố là một cù lao trên sông Đồng Nai, thuộc Biên Hoà (Đồng Nai), nơi nhóm người Hoa của Trần Thượng Xuyên lập phố buôn từ cuối thế kỷ 17 và biến nó thành thương cảng sầm uất đầu tiên của Nam Bộ, được sử cũ gọi là Nông Nại đại phố. Trong khoảng một thế kỷ, thuyền buôn từ Quảng Đông, Phúc Kiến, Nhật Bản và châu Âu ghé đây mua lúa gạo, gỗ, đường, rồi bán vải, đồ sứ, hàng kim khí.
Đến cuối thế kỷ 18, sau nhiều biến động, phần lớn thương nhân dời về vùng Sài Gòn – Chợ Lớn, và Cù lao Phố trở lại thành một cù lao vườn tược yên ả. Điều còn lại hôm nay là vài ngôi miếu cổ, ngôi đình thờ người lập phố, nếp gốm và tên đất. Bài dưới kể lại phố ấy hình thành ra sao và người đến thăm nên xem gì.
Năm 1679: một đoàn thuyền xin đất ở
Theo sử triều Nguyễn, năm 1679 có khoảng ba nghìn người Hoa cùng mấy chục chiếc thuyền theo Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch vượt biển đến cửa biển Đà Nẵng, xin chúa Nguyễn Phúc Tần cho ở lại. Chúa cho họ vào phương Nam, nơi đất còn thưa người: nhóm Dương Ngạn Địch xuống vùng Mỹ Tho, nhóm Trần Thượng Xuyên lên vùng Bàn Lân, Biên Hoà bên sông Đồng Nai.
Những người này phần đông quê Quảng Đông, Phúc Kiến, mang theo cả gia đình, thợ thủ công và quan hệ buôn bán với các cảng phía Bắc. Họ không đến tay trắng: có thuyền, có vốn, có kinh nghiệm buôn biển. Đó là lý do chỉ vài chục năm sau, Cù lao Phố đã thành nơi thuyền lớn ra vào, khác hẳn những điểm khai hoang thuần nông xung quanh.
Trần Thượng Xuyên về sau được triều Nguyễn giao chức trấn thủ và được nhớ như người có công khai phá đất Biên Hoà. Tên ông gắn với nhiều công trình ở vùng này, và ngôi đình thờ ông vẫn còn đến hôm nay.
Phố trên cù lao trông như thế nào
Trịnh Hoài Đức, người Minh Hương gốc ở chính vùng Biên Hoà, trong sách Gia Định thành thông chí đầu thế kỷ 19 tả Nông Nại đại phố có phố xá lợp ngói, tường vôi, lầu cao, đường lát đá, chạy dài ven sông; thuyền buôn biển và ghe sông đậu kín bến. Đây là một trong những ghi chép trực tiếp hiếm hoi về thương cảng này, viết khi phố đã qua thời thịnh nhất nhưng ký ức còn tươi.
Phố được dựng theo kiểu phố buôn của vùng duyên hải Phúc Kiến, Quảng Đông: nhà liền kề, mặt tiền làm cửa hàng, phía sau là kho và chỗ ở, có bến riêng ra sông. Giữa phố là các miếu thờ chung, nơi thương nhân họp bàn việc giá cả, phân xử tranh chấp và lo việc cộng đồng.
Đời sống trên phố không khép kín. Nhiều thương nhân lấy vợ người Việt; con cái vừa học chữ Hán ở nhà, vừa nói tiếng Việt ngoài chợ. Thợ mộc, thợ gốm, người chèo ghe, người gánh hàng là cư dân địa phương làm thuê cho các tiệm. Lớp con lai ấy về sau được ghi vào sổ Minh Hương, và chính từ lớp này xuất hiện những người như Trịnh Hoài Đức, vừa thạo văn chương chữ Hán vừa coi mình hoàn toàn là thần dân nhà Nguyễn.
Vị trí của cù lao là lý do nó thịnh. Sông Đồng Nai đủ sâu để thuyền biển ngược lên, lại nối với vùng rừng phía bắc nhiều gỗ quý và vùng đồng bằng phía nam nhiều lúa. Cù lao giữa dòng vừa dễ kiểm soát bến, vừa tránh được ngập sâu.
Buôn gì ở Nông Nại đại phố
Các ghi chép thời Nguyễn và nghiên cứu sau này cho thấy thương cảng làm đầu mối hai chiều. Bảng dưới gom các nhóm hàng chính được nhắc nhiều, không phải danh mục đầy đủ.
| Chiều | Nhóm hàng | Nguồn hoặc nơi đến |
|---|---|---|
| Bán ra | Lúa gạo | Đồng bằng quanh sông Đồng Nai, Sài Gòn, chở đi các cảng phía Bắc và nước ngoài |
| Bán ra | Gỗ quý, gỗ đóng thuyền | Rừng thượng nguồn sông Đồng Nai, sông Bé |
| Bán ra | Đường, cau, sáp ong, sừng, da thú | Nông sản và lâm sản vùng Biên Hoà |
| Mua vào | Vải, lụa, đồ sứ | Thuyền Quảng Đông, Phúc Kiến |
| Mua vào | Hàng kim khí, thuốc bắc, giấy | Các cảng Hoa Nam |
| Mua vào | Hàng ngoại khác | Thuyền Nhật Bản, thuyền buôn châu Âu ghé lẻ tẻ |
Nhờ chiều hàng đi ra là lúa gạo, Cù lao Phố đặt nền cho vai trò mà Chợ Lớn về sau kế thừa: thu gom gạo Nam Bộ để bán đi xa. Các mạng lưới buôn, quan hệ với thuyền chủ và nếp tổ chức theo bang đều được mang theo khi thương nhân dời phố.
Mỹ Tho đại phố: nhánh song sinh bên sông Tiền
Cùng năm 1679, nhóm của Dương Ngạn Địch xuống vùng Mỹ Tho (nay thuộc Đồng Tháp) và dựng một phố chợ bên sông Tiền, sử cũ gọi là Mỹ Tho đại phố. Nếu Cù lao Phố nhìn ra vùng rừng và đồng phía đông bắc, thì Mỹ Tho là cửa ngõ của cả miền Tây phía sau: lúa, cau, dừa, cá khô theo sông Tiền dồn về đây.
Hai thương cảng ra đời cùng lúc nhưng mỗi nơi một số phận. Mỹ Tho sớm gắn với việc khai khẩn đồng bằng, phố chợ lẫn vào làng xóm người Việt, nên dấu vết phố Khách ở đây mờ hơn Cù lao Phố. Đến nay, Mỹ Tho vẫn có cộng đồng người Hoa buôn bán quanh chợ và bến sông, có hội quán và miếu Thiên Hậu, nhưng không còn khu phố cổ liền khối.
Đặt hai nơi cạnh nhau giúp hiểu vì sao người Hoa Nam Bộ có mặt rải khắp đồng bằng chứ không dồn về một chỗ. Từ hai đầu cầu ban đầu ấy, các lớp người sau men theo sông Tiền, sông Hậu, sông Đồng Nai mà lập tiệm, lập chành. Khi Chợ Lớn lớn mạnh vào thế kỷ 19, nó trở thành nút gom mọi dòng hàng, nhưng mạng lưới thì đã được kéo sợi từ Cù lao Phố và Mỹ Tho.
Với người đi tìm gốc gác, đây là chi tiết đáng nhớ: một gia đình gốc Hoa lâu đời ở Đồng Tháp, Vĩnh Long chưa chắc đã đến từ Chợ Lớn; có thể tổ tiên họ thuộc lớp người theo Dương Ngạn Địch, đã sống bên sông Tiền trước khi Chợ Lớn thành hình.
Vì sao thương cảng suy và người dời về Chợ Lớn
Cuối thế kỷ 18, vùng Gia Định trải qua nhiều biến động; phố xá trên cù lao bị tàn phá nặng, thương nhân tản đi. Phần đông kéo xuống vùng ven rạch Bến Nghé, nơi về sau thành Chợ Lớn, mang theo vốn liếng, quan hệ và cả các vị thần bảo hộ của họ.
Ngoài lý do biến động, còn có lý do địa lý. Sài Gòn – Chợ Lớn gần các vựa lúa miền Tây hơn, đường thủy nối thẳng với sông Tiền, sông Hậu qua kênh rạch, trong khi Cù lao Phố nằm xa hơn về phía bắc. Khi lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long thành mặt hàng chính, trung tâm buôn bán tất yếu dịch về phía đó.
Biên Hoà không mất hẳn người Hoa. Một bộ phận ở lại, chuyển sang làm vườn, làm gốm, làm gỗ, buôn bán nhỏ; nhiều gia đình hoà vào làng Minh Hương rồi thành người Việt. Đó là lý do ở Biên Hoà hôm nay, dấu vết người Hoa nằm nhiều trong nghề và trong đình miếu hơn là trong tiếng nói.
Những gì còn xem được hôm nay
Cù lao Phố nay là vùng dân cư và vườn cây, nối với trung tâm Biên Hoà bằng cầu. Người tìm dấu vết thương cảng cũ có thể ghé những điểm sau, đều là di tích công khai:
- Thất Phủ cổ miếu (chùa Ông). Ngôi miếu thờ Quan Công do cộng đồng người Hoa trên cù lao dựng, theo tư liệu địa phương có từ cuối thế kỷ 17 và trùng tu nhiều lần. Đây là dấu tích rõ nhất của Nông Nại đại phố, với mái ngói, tượng gốm trên nóc và hoành phi, câu đối cổ.
- Đình Tân Lân. Ngôi đình ở Biên Hoà thờ Trần Thượng Xuyên, người lập phố. Đình giữ lối kiến trúc đình Nam Bộ, cho thấy người Hoa lập đất được cư dân về sau tôn kính như một vị tiền nhân của địa phương.
- Văn miếu Trấn Biên. Văn miếu đầu tiên ở phương Nam, theo sử địa phương được dựng năm 1715, gắn với tên Trần Thượng Xuyên và quan trấn thủ Nguyễn Phan Long. Công trình hiện nay là bản phục dựng, nhưng vị trí và câu chuyện vẫn nối với thời thương cảng.
- Bến sông và các ngôi miếu nhỏ. Dọc bờ cù lao còn vài miếu Thiên Hậu, miếu Phúc Đức nhỏ, nơi người dân giữ lễ hằng năm. Đi bộ ven bờ buổi sáng sớm là cách dễ nhất để hình dung một thời bến thuyền.
- Nghề gốm Biên Hoà. Các lò gốm ven sông Đồng Nai có nguồn gốc gắn với thợ gốm người Hoa, nhất là người Hẹ. Gốm Biên Hoà về sau phát triển thêm lối men riêng, nhưng nếp lò và kỹ thuật ban đầu đến từ cộng đồng này.
Khi tham quan, nên đi cùng người địa phương hoặc ban quản lý di tích để nghe câu chuyện từng nơi; nhiều chi tiết như tên thợ, năm trùng tu chỉ được ghi trên bia trong miếu, không có ở biển giới thiệu bên ngoài.
Cù lao Phố trong ký ức người Hoa Nam Bộ
Với nhiều hội quán ở Chợ Lớn, Cù lao Phố là "quê đầu" ở phương Nam. Một số hội quán ghi trong tiểu sử của mình rằng tiền thân là cơ sở trên cù lao, dời về sau những biến động cuối thế kỷ 18. Vì vậy, mỗi dịp lễ lớn vẫn có đoàn từ Chợ Lớn lên Biên Hoà dâng hương ở Thất Phủ cổ miếu và đình Tân Lân.
Câu chuyện Cù lao Phố cũng cho thấy một điều ít được nói: người Hoa thời đầu không chỉ buôn bán mà góp tay dựng bộ máy hành chính và văn hoá của vùng đất mới. Trần Thượng Xuyên giữ chức trấn thủ; Trịnh Hoài Đức, một người Minh Hương ở Biên Hoà, trở thành đại thần và soạn bộ địa chí quan trọng nhất về Gia Định.
Người đọc trẻ gốc Hoa ở Đồng Nai, TP.HCM có thể dùng Cù lao Phố như điểm bắt đầu của câu chuyện gia đình: nhà mình thuộc lớp người nào, đến thời Cù lao Phố, thời Chợ Lớn hay muộn hơn, và vì sao lại ở đúng nơi đang ở.
Câu hỏi thường gặp
Cù lao Phố hiện nay thuộc đâu?
Cù lao Phố nằm trên sông Đồng Nai, thuộc khu vực Biên Hoà của tỉnh Đồng Nai. Sau sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, cù lao thuộc các phường mới của Biên Hoà; người địa phương vẫn quen gọi cả vùng là Cù lao Phố hoặc Hiệp Hoà.
Trần Thượng Xuyên là ai?
Trần Thượng Xuyên, còn gọi là Trần Thắng Tài, là thủ lĩnh nhóm người Hoa đến xin định cư năm 1679 và được chúa Nguyễn cho lên vùng Biên Hoà. Ông lập thương cảng Cù lao Phố, sau giữ chức trấn thủ và được thờ ở đình Tân Lân.
Nông Nại đại phố và Cù lao Phố có phải là một?
Đúng vậy. Nông Nại là cách gọi xưa của vùng Đồng Nai; Nông Nại đại phố là tên trong sử sách chỉ khu phố buôn lớn trên cù lao. Cù lao Phố là tên dân gian, đến nay vẫn dùng.
Có nên đến Cù lao Phố nếu chỉ có nửa ngày?
Có. Từ trung tâm Biên Hoà đi qua cầu là tới. Nửa ngày đủ ghé Thất Phủ cổ miếu, đi một vòng ven bờ, rồi qua đình Tân Lân và Văn miếu Trấn Biên. Nên đi buổi sáng, ăn mặc kín đáo khi vào miếu và hỏi trước khi chụp ảnh bên trong.
Còn người Hoa sống trên Cù lao Phố không?
Còn, nhưng không đông như thời thương cảng. Nhiều gia đình gốc Hoa đã hoà vào cư dân địa phương qua nhiều đời, ghi dân tộc Kinh và chỉ giữ họ, bài vị và nếp cúng ở miếu. Người Hoa ở Biên Hoà hiện nay sống rải rác hơn trong thành phố.
Có tài liệu nào để đọc thêm về thương cảng này?
Nguồn gốc quan trọng nhất là Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, đã có bản dịch tiếng Việt. Ngoài ra có các công trình địa chí Đồng Nai và nghiên cứu của giới sử học Nam Bộ về người Hoa, thường có chương riêng về Nông Nại đại phố.