Người Hoa ở Việt Nam không nói một thứ "tiếng Hoa" duy nhất mà nói năm phương ngữ chính theo quê gốc: tiếng Quảng Đông, tiếng Triều Châu, tiếng Phúc Kiến, tiếng Hẹ (Khách Gia) và tiếng Hải Nam. Năm thứ tiếng này nói ra thì người nhóm này nghe người nhóm kia không hiểu được bao nhiêu, nhưng khi viết thì cùng dùng chữ Hán. Tiếng Phổ thông (Quan thoại, Hoa ngữ) là lớp thứ sáu, học ở trường, dùng để các nhóm nói chuyện với nhau.
Hiểu được tấm bản đồ phương ngữ này giúp con cháu đoán được gốc gác gia đình, giúp người Việt có vợ chồng, đối tác người Hoa hiểu vì sao ông bà bên kia nói một thứ tiếng mà học sinh học tiếng Trung nghe không ra. Phần dưới đi qua nguồn gốc từng nhóm, những chỗ khác nhau dễ nhận ra nhất, chỗ đứng của tiếng Phổ thông và cách lần ra phương ngữ của nhà mình.
"Tiếng Hoa" là tên chung của nhiều thứ tiếng
Các nhà ngôn ngữ học thường chia các thứ tiếng của người Hán thành khoảng bảy nhóm lớn: Quan thoại (phương Bắc), tiếng Ngô (vùng Thượng Hải, Tô Châu), tiếng Mân (Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam), tiếng Việt Quảng Đông (Yue, đừng lẫn với tiếng Việt của người Việt), tiếng Khách Gia, tiếng Tương (Hồ Nam) và tiếng Cám (Giang Tây). Có tài liệu tách thêm vài nhóm nhỏ, nhưng khung bảy nhóm là cách chia phổ biến nhất trong sách phổ thông.
Gọi các nhóm này là "phương ngữ" là theo thói quen của người nói tiếng Hán, vì họ dùng chung một hệ chữ và chung một nền văn học cổ. Nếu chỉ xét chuyện nghe hiểu thì khoảng cách giữa tiếng Quảng Đông và tiếng Phổ thông lớn ngang khoảng cách giữa nhiều cặp ngôn ngữ châu Âu được coi là hai thứ tiếng riêng. Một người Bắc Kinh lần đầu nghe ông cụ Triều Châu nói chuyện ở chợ sẽ chỉ bắt được vài con số và tên món hàng.
Vì vậy câu hỏi "người Hoa nói tiếng gì" luôn cần hỏi thêm: nhóm nào, đời thứ mấy, sống ở đâu. Một gia đình ở khu Chợ Lớn (TP.HCM) hoàn toàn có thể dùng tiếng Quảng Đông với hàng xóm, tiếng Triều Châu trong nhà, tiếng Việt ở trường và tiếng Phổ thông trong giờ Hoa văn. Bốn lớp tiếng sống chung trong một mái nhà là chuyện bình thường, không phải ngoại lệ.
Năm phương ngữ của người Hoa ở Việt Nam đến từ đâu
Năm nhóm này cũng là năm "bang" mà người Pháp và triều Nguyễn dùng để quản lý cộng đồng người Hoa ở Nam Kỳ xưa. Mỗi bang gắn với một vùng quê ở miền Nam Trung Quốc và một thứ tiếng riêng.
| Phương ngữ | Quê gốc chính | Thuộc nhóm | Nơi đông ở Việt Nam | Nơi đông ở nước ngoài |
|---|---|---|---|---|
| Quảng Đông (Quảng Phủ) | Quảng Châu, Triệu Khánh, vùng châu thổ Châu Giang | Việt (Yue) | Khu Chợ Lớn, Hội An, các đô thị lớn | Hồng Kông, Ma Cao, Kuala Lumpur, Ipoh, phố người Hoa ở Mỹ, Canada |
| Triều Châu | Triều Châu, Sán Đầu, Yết Dương (đông Quảng Đông) | Mân Nam | Sóc Trăng, Bạc Liêu (nay thuộc Cần Thơ, Cà Mau), Rạch Giá | Thái Lan, Campuchia, một phần Singapore |
| Phúc Kiến | Tuyền Châu, Chương Châu, Hạ Môn | Mân Nam | Hội An, khu Chợ Lớn, rải rác Nam Bộ | Singapore, Penang, Philippines, Đài Loan |
| Hẹ (Khách Gia) | Mai Châu và vùng đồi núi giáp ba tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến, Giang Tây | Khách Gia | Đông Nam Bộ, TP.HCM, Đồng Nai | Sabah, Kalimantan, Đài Loan, Mauritius |
| Hải Nam | Đảo Hải Nam (Văn Xương, Quỳnh Sơn) | Mân (nhánh Quỳnh Văn) | Hội An, rải rác miền Trung và Nam Bộ | Singapore, Malaysia, Thái Lan |
Bảng trên chỉ là bức tranh chung: gia đình nào cũng có thể đã chuyển chỗ ở nhiều lần. Người Triều Châu ở Bạc Liêu cũ có thể lên TP.HCM từ ba đời trước, người Phúc Kiến ở Hội An có nhánh đã ra Đà Nẵng hay vào Sài Gòn. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, người Hoa ở Việt Nam có khoảng 750 nghìn người, là một trong 54 dân tộc, sống đông nhất ở TP.HCM.
Khác nhau ở đâu: nghe một câu là nhận ra
Chỗ khác dễ nghe nhất là thanh điệu. Tiếng Phổ thông có bốn thanh và một thanh nhẹ; tiếng Quảng Đông thường được mô tả có sáu thanh (chín nếu tính riêng các âm tắc cuối); tiếng Triều Châu có tám thanh và hay đổi thanh khi ghép chữ thành cụm. Người Việt học tiếng Quảng Đông thường thấy dễ bắt tai hơn tiếng Phổ thông, vì cái "nhạc" của câu gần với tiếng Việt Nam Bộ.
Chỗ khác thứ hai là phụ âm cuối. Tiếng Quảng Đông, Hẹ, Mân Nam giữ được các âm cuối -p, -t, -k như âm Hán Việt, còn tiếng Phổ thông đã mất. Chữ 十 (mười) âm Hán Việt là "thập", tiếng Quảng Đông đọc gần "sập", tiếng Phổ thông đọc "shí". Chữ 六 (sáu) Hán Việt là "lục", tiếng Quảng Đông "lục", tiếng Phổ thông "liù". Người biết Hán Việt vì thế thường thấy tiếng Quảng Đông "quen" hơn.
Chỗ khác thứ ba là từ vựng hằng ngày. Câu "ăn cơm" tiếng Phổ thông là chī fàn, tiếng Quảng Đông là sik faan (người Nam Bộ hay phiên "sực phàn"), tiếng Phúc Kiến là chia̍h-pn̄g. Chữ "ăn" ở hai phương ngữ phía Nam là 食 (thực), từ cổ hơn, còn tiếng Phổ thông dùng 吃. Rất nhiều từ thường ngày như "không có", "nói", "xem", "đẹp" khác nhau tận gốc chữ, nên không thể đoán từ tiếng này sang tiếng kia.
Chỗ khác cuối cùng là cách đọc họ. Chữ 陳 (Trần) tiếng Phổ thông là Chén, tiếng Quảng Đông là Chan, tiếng Phúc Kiến và Triều Châu là Tan. Chữ 黃 (Hoàng) là Huáng, Wong và Ng. Cùng một ông Trần có thể mang ba cách viết Latinh khác nhau trên hộ chiếu, tuỳ ông sống ở Hồng Kông, Singapore hay Đài Loan.
Tiếng Phổ thông đứng ở đâu trong bức tranh này
Tiếng Phổ thông (普通話 Phổ thông thoại, ở Đài Loan gọi 國語 Quốc ngữ, ở Singapore và Malaysia gọi 華語 Hoa ngữ) dựa trên tiếng Bắc Kinh và nhóm Quan thoại. Nó là thứ tiếng của trường học, báo đài và văn bản, nên trở thành cầu nối giữa người Quảng Đông với người Phúc Kiến, giữa người Hoa Việt Nam với người Hoa Malaysia.
Với cộng đồng người Hoa ở Việt Nam, tiếng Phổ thông vào trường Hoa văn từ khá sớm trong thế kỷ 20. Các trường do bang lập lúc đầu dạy bằng tiếng của bang mình, về sau chuyển dần sang dạy bằng Quan thoại để học sinh các bang học chung. Xu hướng này diễn ra ở nhiều nước Đông Nam Á cùng thời, không riêng Việt Nam.
Kết quả là nhiều người Hoa trung niên ở TP.HCM nói được ba thứ: tiếng Việt, phương ngữ của nhà và tiếng Phổ thông học ở trường. Thế hệ trẻ hơn thì thường mạnh tiếng Việt và tiếng Phổ thông, còn phương ngữ chỉ nghe hiểu khi ông bà nói. Đây là hướng chuyển dịch ngôn ngữ thường thấy ở các cộng đồng di cư: tiếng chung của xã hội và tiếng có trường dạy thắng thế, tiếng nói trong bếp dần mỏng đi.
Phiên âm cũng khác nhau. Tiếng Phổ thông dùng bính âm (pinyin) Latinh, công bố năm 1958; ở Đài Loan trẻ em học chú âm phù hiệu (ㄅㄆㄇㄈ). Các phương ngữ có hệ phiên âm riêng, phần lớn chỉ giới nghiên cứu và người học nghiêm túc dùng, như Jyutping cho tiếng Quảng Đông hay Pe̍h-ōe-jī cho tiếng Phúc Kiến.
Chung một chữ viết, nhiều cách đọc
Điều làm các phương ngữ vẫn gắn với nhau là chữ Hán. Một tấm hoành phi ở hội quán Phúc Kiến hay một tờ gia phả Triều Châu đều viết bằng cùng hệ chữ, người biết chữ ở nhóm nào cũng đọc được nghĩa, chỉ khác tiếng đọc ra miệng. Giống như chữ số 7: người Việt đọc "bảy", người Anh đọc "seven", nhưng ai cũng hiểu là bảy.
Tuy vậy sự chung chữ chỉ đúng hoàn toàn với văn viết trang trọng. Khi viết đúng lời nói thường ngày, mỗi phương ngữ cần thêm chữ riêng. Tiếng Quảng Đông ở Hồng Kông có cả một lớp chữ không dùng trong văn Phổ thông, như 嘅 (của), 咗 (rồi), 冇 (không có), 佢 (nó). Người chỉ học tiếng Phổ thông nhìn một tin nhắn tiếng Quảng sẽ thấy chữ quen mà câu lạ.
Người Việt còn có thêm một lớp đọc nữa: âm Hán Việt. Đây là cách người Việt đọc chữ Hán, hình thành chủ yếu từ âm đời Đường và đã Việt hoá. Âm Hán Việt không phải tiếng Hoa, người Hoa không hiểu khi nghe, nhưng nó giúp người Việt nhớ nghĩa chữ rất nhanh. Một gia đình Hoa – Việt có thể gọi cùng một tấm bài vị bằng ba cách: Hán Việt của người Việt, phương ngữ của ông bà, tiếng Phổ thông của đứa cháu học trường Hoa văn.
Thêm một lớp nữa là chữ phồn thể và chữ giản thể. Giấy tờ, bia mộ, gia phả của người Hoa ở Việt Nam trước đây gần như đều viết phồn thể; sách giáo khoa Hoa văn hiện nay phần lớn dùng giản thể. Hai hệ chữ này cùng nghĩa nhưng nhiều chữ khác nét, nên người chỉ quen một hệ cần thời gian làm quen hệ kia.
Ở Việt Nam ngày nay, phương ngữ nào còn nghe thấy nhiều
Tiếng Quảng Đông vẫn là tiếng chung ở khu Chợ Lớn. Nhiều tiểu thương gốc Triều Châu, Phúc Kiến ở các phường thuộc quận 5, 6, 11 cũ vẫn dùng tiếng Quảng Đông để mua bán với nhau. Phim truyền hình và nhạc Hồng Kông nhiều thập niên cũng làm tiếng Quảng quen tai với cả người Việt.
Tiếng Triều Châu mạnh ở miền Tây. Ở Sóc Trăng, Bạc Liêu cũ, Rạch Giá, tiếng Triều Châu còn nghe trong chợ, trong chùa, trong các buổi hát tuồng Triều Châu ngày rằm. Tiếng Việt Nam Bộ ở vùng này cũng mượn khá nhiều từ Triều Châu.
Tiếng Phúc Kiến, Hải Nam mỏng dần. Hai nhóm này ít người hơn, sống xen với nhóm khác nên con cháu dễ chuyển sang tiếng Quảng hoặc tiếng Việt. Ở Hội An, tên các hội quán Phúc Kiến, Hải Nam vẫn còn đó nhưng người nói thạo phương ngữ thì chủ yếu là người cao tuổi.
Tiếng Hẹ giữ được trong một số làng nghề và gia đình. Người Hẹ ở Đông Nam Bộ thường sống thành cụm, giữ tiếng trong nhà khá bền. Cũng nên phân biệt người Hẹ với người Ngái: người Ngái là một dân tộc riêng trong 54 dân tộc Việt Nam, tiếng nói gần với tiếng Khách Gia.
Tiếng Phổ thông lên ngôi ở người trẻ. Học sinh người Hoa đi học Hoa văn, xem mạng xã hội, làm việc với đối tác nước ngoài đều dùng tiếng Phổ thông. Với nhiều em, phương ngữ của ông bà là thứ tiếng nghe được mà không nói được.
Cách lần ra phương ngữ của nhà mình khi ông bà không còn
Nhiều người trẻ gốc Hoa chỉ biết mình "là người Hoa" mà không rõ nhà thuộc nhóm nào. Có thể lần lại bằng những manh mối có sẵn trong nhà, theo thứ tự từ dễ đến khó.
- Nhớ lại cách ông bà gọi người trong nhà: gọi bà nội là "a ma", gọi chị là "chế", gọi anh là "hia"… mỗi cách gọi nghiêng về một nhóm. "Hia" là từ Triều Châu, Phúc Kiến; "chế" quen ở người Quảng Đông.
- Xem họ của gia đình được viết Latinh thế nào trên giấy tờ cũ hay của họ hàng ở nước ngoài: Tan, Lim, Goh thường là Mân Nam; Chan, Wong, Lam thường là Quảng Đông.
- Tìm dòng quê quán trên gia phả, bài vị, bia mộ: tên tỉnh, phủ, huyện như 潮州 Triều Châu, 廣州 Quảng Châu, 泉州 Tuyền Châu, 梅縣 Mai Huyện, 文昌 Văn Xương cho biết thẳng nhóm phương ngữ.
- Hỏi xem trước đây gia đình hay đi lễ, đi giỗ ở hội quán nào: mỗi hội quán gắn với một bang.
- Nhờ một người lớn tuổi biết nhiều phương ngữ nghe lại băng ghi âm, video cũ có giọng ông bà.
Không manh mối nào là chắc chắn một mình. Gia đình có thể là Triều Châu theo bên nội nhưng nói tiếng Quảng vì sống lâu ở Chợ Lớn. Khi ba bốn manh mối cùng chỉ về một hướng thì mới đủ tin.
Câu hỏi thường gặp
Tiếng Hoa và tiếng Trung có phải là một không?
Trong cách nói thông thường ở Việt Nam, "tiếng Hoa" và "tiếng Trung" thường chỉ tiếng Phổ thông học ở trường. Nhưng trong cộng đồng người Hoa, "tiếng Hoa" còn bao gồm các phương ngữ như Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hẹ, Hải Nam. Khi ai đó nói "biết tiếng Hoa", nên hỏi lại là biết phương ngữ nào.
Học tiếng Phổ thông rồi có nghe được tiếng Quảng Đông không?
Phần lớn là không, ít nhất là lúc đầu. Người học tiếng Phổ thông sẽ đọc được chữ và nhận ra một số từ, nhưng thanh điệu, âm cuối và nhiều từ thường ngày khác hẳn. Muốn nghe được tiếng Quảng Đông cần học riêng, dù nền chữ Hán giúp đi nhanh hơn người bắt đầu từ con số không.
Tiếng Triều Châu và tiếng Phúc Kiến có nói chuyện được với nhau không?
Hai thứ tiếng cùng thuộc nhánh Mân Nam nên gần nhau hơn so với tiếng Quảng Đông. Người nói hai bên thường hiểu được một phần, nhất là những câu đơn giản về ăn uống, gia đình, buôn bán. Khi nói nhanh hoặc dùng từ địa phương thì vẫn hụt, nên nhiều người chuyển sang tiếng Phổ thông hoặc tiếng Việt cho chắc.
Vì sao người Hoa ở Việt Nam hay gọi tiếng Quảng Đông là "tiếng Quảng"?
Người Quảng Đông là nhóm đông nhất ở khu Chợ Lớn từ lâu, nên tiếng của họ thành tiếng chung trong buôn bán. Cách gọi tắt "tiếng Quảng" đi vào cả lời nói của người Việt. Ở nước ngoài, tiếng này hay được gọi theo tiếng Anh là Cantonese, gốc từ tên thành phố Quảng Châu.
Âm Hán Việt có giúp học tiếng Hoa không?
Có, nhưng chủ yếu ở phần nghĩa và từ vựng gốc Hán. Người biết âm Hán Việt đoán nghĩa chữ nhanh và nhớ từ ghép dễ. Phần phát âm thì vẫn phải học lại từ đầu, vì âm Hán Việt khác mọi phương ngữ. Âm Hán Việt gần tiếng Quảng Đông ở các âm cuối hơn là gần tiếng Phổ thông.
Người Ngái có phải là người Hẹ không?
Không nên đồng nhất. Người Ngái là một dân tộc riêng trong danh mục 54 dân tộc Việt Nam, có tiếng nói gần với tiếng Khách Gia. Một số gia đình gốc Hẹ ở Việt Nam được ghi là dân tộc Hoa. Việc ghi dân tộc trên giấy tờ theo khai báo và giấy tờ gốc của từng gia đình.