Chữ phồn thể là dạng chữ Hán truyền thống nhiều nét; chữ giản thể là dạng rút gọn được công bố từ giữa thập niên 1950. Hai hệ cùng đọc, cùng nghĩa, nhưng nhiều chữ khác nét, và có những chữ giản thể đại diện cho hai ba chữ phồn thể khác nhau. Gia phả, bài vị, bia mộ, giấy tờ cũ của người Hoa ở Việt Nam gần như đều viết phồn thể; sách giáo khoa Hoa văn và phần lớn tài liệu học tiếng Phổ thông hiện nay dùng giản thể.
Vì vậy người chỉ học giản thể thường đọc tư liệu gia đình vấp ở nhiều chữ, còn máy chuyển đổi tự động thì dễ ghi sai tên họ. Bài này giải thích các cách rút gọn, những chữ gộp hay gây lỗi, bảng họ người Hoa ở hai hệ chữ, và cách đọc tư liệu cũ cho đúng.
Hai hệ chữ được dùng ở đâu
Chữ phồn thể (繁體字, ở Đài Loan còn gọi 正體字 "chính thể") là dạng chữ đã dùng ổn định qua nhiều thế kỷ, được ghi trong các từ điển lớn như Khang Hy tự điển (1716). Ngày nay phồn thể được dùng hằng ngày ở Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao và trong phần lớn cộng đồng người Hoa lâu đời ở nước ngoài.
Chữ giản thể (简体字) được công bố thành các đợt từ giữa thập niên 1950, tổng hợp thành bảng năm 1964 và chỉnh lý năm 1986, với khoảng hơn hai nghìn chữ được rút gọn. Giản thể được dùng ở Trung Quốc đại lục, ở Singapore, trong hệ thống trường dạy tiếng Hoa ở Malaysia, và trong phần lớn giáo trình tiếng Phổ thông bán trên thế giới.
Với người Hoa ở Việt Nam, ranh giới thời gian khá rõ: tư liệu gia đình từ giữa thế kỷ 20 trở về trước gần như hoàn toàn là phồn thể; hoành phi, câu đối, bia ở hội quán, chùa miếu cũng vậy. Các lớp Hoa văn mấy chục năm gần đây chủ yếu dạy giản thể. Một gia đình có thể có ông nội chỉ đọc phồn thể và cháu nội chỉ đọc giản thể.
Cần nói thêm rằng hai hệ chỉ khác ở một phần chữ. Rất nhiều chữ thường dùng như 人, 大, 山, 水, 林, 李, 王, 天 giống hệt nhau ở cả hai hệ. Phần khác nhau tập trung ở những chữ nhiều nét và những bộ thủ hay gặp.
Chữ giản thể được rút gọn theo những cách nào
Biết cách rút gọn giúp đoán ra chữ phồn thể khi chỉ học giản thể, và ngược lại. Phần lớn chữ giản thể rơi vào một trong các nhóm sau.
| Cách rút gọn | Ví dụ phồn thể → giản thể | Ghi chú |
|---|---|---|
| Rút gọn bộ thủ | 語 → 语, 銀 → 银, 門 → 门, 飯 → 饭 | Bộ ngôn 言 thành 讠, bộ kim 金 thành 钅, bộ thực 食 thành 饣; biết một bộ là đọc được cả loạt chữ |
| Lấy theo lối viết thảo | 書 → 书, 東 → 东, 為 → 为, 樂 → 乐 | Nhiều dạng giản thể vốn đã có trong chữ thảo, chữ hành từ xưa |
| Thay phần âm bằng phần ít nét | 燈 → 灯, 億 → 亿, 認 → 认 | Phần chỉ âm được thay bằng chữ đồng âm hoặc gần âm đơn giản hơn |
| Giữ một phần, bỏ phần còn lại | 廣 → 广, 開 → 开, 飛 → 飞, 習 → 习 | Chỉ giữ nét đặc trưng nhất của chữ cũ |
| Thay bằng ký hiệu chung | 漢 → 汉, 對 → 对, 雞 → 鸡, 鄧 → 邓 | Một phần phức tạp được thay bằng 又 hoặc ký hiệu tương tự |
| Gộp nhiều chữ vào một | 後, 后 → 后; 髮, 發 → 发; 麵, 面 → 面 | Nguồn gây lỗi lớn nhất khi chuyển ngược về phồn thể |
Người đã học giản thể chỉ cần thuộc vài chục bộ phận rút gọn hay gặp là đọc được một nửa số chữ phồn thể khác dạng. Phần còn lại phải học từng chữ, nhưng thường là những chữ hay dùng nên nhớ nhanh.
Chữ gộp: bẫy lớn khi chuyển giản thể về phồn thể
Chuyển phồn thể sang giản thể gần như không sai, vì mỗi chữ phồn thể có một dạng giản thể. Chiều ngược lại thì khác: một chữ giản thể có thể ứng với hai, ba chữ phồn thể, và máy phải đoán theo ngữ cảnh. Với văn bản thông thường, máy đoán đúng phần lớn. Với tên người, tên đất, câu đối, câu trích, máy đoán sai không hiếm.
Một vài ví dụ hay gặp: 发 có thể là 發 (phát, phát đạt) hoặc 髮 (tóc); 后 có thể là 后 (hậu, như Thiên Hậu 天后) hoặc 後 (sau); 干 có thể là 乾 (khô), 幹 (cán, làm) hoặc giữ là 干 (can); 面 có thể là 面 (mặt) hoặc 麵 (mì); 里 có thể là 里 (dặm, làng) hoặc 裏 (trong); 台 có thể là 臺, 檯, 颱 hoặc 台; 钟 có thể là 鐘 (chuông, đồng hồ) hoặc 鍾 (họ Chung).
Hậu quả thực tế: một tấm thiệp cưới, một tấm bia mộ được đặt khắc từ bản giản thể chuyển tự động có thể ra chữ 發 trong tên một người vốn tên là 髮, hoặc ra 鐘 trong họ Chung. Chữ sai trên bia đá thì sửa rất tốn công. Với giấy tờ chính thức, tên chữ Hán sai một nét có thể làm hồ sơ không khớp với giấy tờ cũ.
Nguyên tắc an toàn: tên người, tên quê, câu đối luôn lấy từ bản gốc phồn thể của gia đình (gia phả, bài vị, giấy tờ cũ), không lấy từ bản giản thể chuyển ngược. Nếu chỉ còn bản giản thể, cần người biết chữ đối chiếu từng chữ với nghĩa trong tên.
Họ người Hoa ở hai hệ chữ
Nhiều họ phổ biến của người Hoa ở Việt Nam viết khác nhau giữa phồn thể và giản thể. Khi đọc bia mộ, giấy tờ cũ, gặp dạng bên trái là chuyện thường.
| Họ (Hán Việt) | Phồn thể | Giản thể |
|---|---|---|
| Trần | 陳 | 陈 |
| Hoàng | 黃 | 黄 |
| Lưu | 劉 | 刘 |
| Trương | 張 | 张 |
| Ngô | 吳 | 吴 |
| Trịnh | 鄭 | 郑 |
| Tạ | 謝 | 谢 |
| Diệp | 葉 | 叶 |
| Tô | 蘇 | 苏 |
| Đặng | 鄧 | 邓 |
| Quan | 關 | 关 |
| Tiêu | 蕭 | 萧 |
Các họ Lâm 林, Lý 李, Thái 蔡, Châu 周, Hà 何, Mạch 麥 (giản thể 麦) đều gặp nhiều trong cộng đồng; phần lớn giống nhau ở hai hệ trừ vài chữ như 麥. Chữ 葉 (Diệp) và 叶 là một ví dụ thú vị: dạng 叶 vốn đã có từ xưa với cách đọc "hiệp", về sau được chọn làm giản thể của 葉. Ai đọc bia cổ thấy chữ 叶 cần xem ngữ cảnh để biết là họ Diệp hay chữ hiệp.
Đọc tư liệu cũ: phồn thể chưa phải khó khăn duy nhất
Chữ dị thể. Trước khi có chuẩn chữ hiện đại, người viết tay dùng nhiều dạng khác nhau của cùng một chữ (異體字 dị thể tự), như 寳 và 寶 (bảo), 恒 và 恆 (hằng), 収 và 收 (thu). Gia phả, khế ước đất viết tay đầy những dạng này; tra từ điển dị thể hoặc hỏi người đọc nhiều tư liệu cũ.
Chữ viết thảo, viết hành. Sổ sách buôn bán, thư từ thường viết nhanh, nét nối nhau. Đây là phần khó nhất, ngay cả người đọc phồn thể giỏi cũng phải đoán theo ngữ cảnh.
Chữ số kế toán. Giấy tờ tiền bạc, đất đai dùng chữ số viết kép để khó sửa: 壹 (một), 貳 (hai), 叁 (ba), 肆 (bốn), 伍 (năm). Sổ buôn bán còn dùng hệ ký hiệu số riêng gọi là số Tô Châu (蘇州碼子), trông như những gạch ngang dọc.
Năm tháng theo niên hiệu và can chi. Tư liệu cũ ghi năm theo niên hiệu triều đại hoặc theo can chi (như 甲子 Giáp Tý), có khi theo năm Dân Quốc. Cần bảng đối chiếu để đổi sang năm dương lịch, và cẩn thận vì vòng can chi lặp lại sau sáu mươi năm.
Từ ngữ tang lễ, tôn xưng. Bia mộ, bài vị dùng lớp từ riêng như 顯考 (hiển khảo, cha đã mất), 顯妣 (hiển tỷ, mẹ đã mất), 孺人 (nhụ nhân, tôn xưng phụ nữ). Đây là quy ước văn tự, đọc đúng nghĩa giúp xác định người được nhắc là ai trong gia đình.
Gõ và lưu chữ phồn thể trên máy: những lỗi nhỏ làm hỏng bản chép
Khi chép gia phả, danh sách tên họ sang máy tính, lỗi hay gặp nhất không phải gõ sai mà là bộ gõ tự đổi chữ. Nhiều bộ gõ tiếng Hoa mặc định xuất giản thể; người gõ phải chuyển sang chế độ phồn thể, và kiểm lại sau mỗi lần cập nhật phần mềm vì chế độ có thể bị trả về mặc định.
Lỗi thứ hai là chữ hiếm. Tên người, tên làng trong gia phả đôi khi dùng chữ ít gặp, nằm trong các vùng mở rộng của bảng mã Unicode. Máy không có phông chữ phù hợp sẽ hiện ô vuông trống hoặc dấu hỏi, người nhận tưởng là lỗi gõ. Khi gặp chữ như vậy, nên ghi thêm cách mô tả cấu tạo chữ, ví dụ "bên trái bộ mộc, bên phải chữ X", kèm ảnh chụp chữ gốc.
Lỗi thứ ba là lưu tệp sai bảng mã khiến chữ Hán biến thành ký tự rác khi mở trên máy khác. Lưu tệp văn bản theo chuẩn UTF-8 và giữ thêm một bản PDF hoặc ảnh chụp trang là cách an toàn. Với bảng tính gia phả, nên có hai cột riêng cho chữ Hán và âm Hán Việt, thêm một cột ghi phiên âm phương ngữ nếu gia đình còn nhớ, để người đọc sau không phải đoán.
Người chỉ biết giản thể muốn đọc tư liệu gia đình: lộ trình gợi ý
Không cần học lại từ đầu. Người đã biết giản thể có thể chuyển sang đọc phồn thể trong vài tháng nếu đi đúng thứ tự.
- Học bảng các bộ phận rút gọn hay gặp (讠, 钅, 饣, 纟, 门, 贝, 车, 马, 鸟, 鱼 và dạng phồn thể của chúng). Đây là phần mang lại nhiều nhất cho ít công nhất.
- Lập danh sách tất cả chữ xuất hiện trong tên người, tên quê của gia đình mình, viết cả hai dạng cạnh nhau. Danh sách này thường chỉ vài chục chữ nhưng là thứ quan trọng nhất cần đọc đúng.
- Tập đọc trên tư liệu in trước (sách, báo phồn thể), sau đó mới đến chữ viết tay. Chữ in giúp mắt quen nét, chữ viết tay cần thêm kinh nghiệm.
- Chụp ảnh tư liệu gia đình rõ nét, đánh số trang, rồi đọc từng trang, ghi chép phần đọc được và đánh dấu chữ chưa chắc.
- Nhờ người biết chữ trong hội đồng hương, hội họ hoặc người làm nghề phiên dịch Hán văn đọc lại những chữ đã đánh dấu.
Khi chép lại tư liệu sang máy, giữ nguyên dạng phồn thể của bản gốc, đừng chuyển sang giản thể cho tiện. Bản chép sẽ còn dùng để đối chiếu với giấy tờ cũ, với họ hàng ở Đài Loan, Hồng Kông hay Malaysia, và với chính con cháu sau này.
Câu hỏi thường gặp
Người Hoa ở Việt Nam nên dạy con phồn thể hay giản thể?
Tuỳ mục tiêu của gia đình. Nếu con học trường Hoa văn và sẽ dùng tiếng Phổ thông trong học tập, làm việc, giản thể là lựa chọn thuận. Nếu gia đình muốn con đọc được gia phả, câu đối, giấy tờ của ông bà, nên cho con làm quen thêm phồn thể, ít nhất là các chữ trong tên họ và quê quán.
Máy dịch có chuyển đúng tên họ từ giản thể sang phồn thể không?
Với những họ chỉ có một dạng phồn thể như 陈 → 陳, máy chuyển đúng. Với các chữ giản thể gộp nhiều chữ phồn thể như 钟, 发, 后, 干, máy có thể chọn sai, nhất là khi chữ nằm trong tên riêng không có ngữ cảnh. Tên người luôn phải đối chiếu với bản gốc của gia đình.
Chữ Hán trong tiếng Nhật có giống giản thể không?
Không hoàn toàn. Tiếng Nhật cũng rút gọn một số chữ từ giữa thế kỷ 20 (gọi là shinjitai), có chữ trùng với giản thể như 国, có chữ khác hẳn như 広 (Nhật) và 广 (giản thể) cùng là chữ 廣. Tư liệu Nhật vì vậy không thay được tư liệu phồn thể khi đọc gia phả người Hoa.
Hoành phi ở hội quán viết phồn thể hay giản thể?
Hoành phi, câu đối cũ ở các hội quán, đền miếu người Hoa ở Việt Nam viết phồn thể, nhiều tấm còn dùng chữ lệ, chữ triện hoặc chữ thảo. Một số bảng mới làm gần đây có thể dùng giản thể, nhưng phần lớn hội quán vẫn giữ phồn thể để đồng bộ với di tích.
Có từ điển nào tra được cả phồn thể, giản thể và âm Hán Việt không?
Có nhiều từ điển Hán Việt in và trực tuyến cho tra theo bộ thủ, số nét hoặc vẽ tay, hiện cả hai dạng chữ và âm Hán Việt. Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu và của Đào Duy Anh là hai cuốn kinh điển nhiều người dùng để đọc văn bản cũ, vì chúng dùng chữ phồn thể.
Năm Dân Quốc trên giấy tờ cũ đổi sang dương lịch thế nào?
Năm Dân Quốc tính từ năm 1912 là năm thứ nhất, nên lấy số năm Dân Quốc cộng 1911 sẽ ra năm dương lịch. Ví dụ giả định: giấy ghi Dân Quốc năm 25 tương ứng năm 1936. Cách tính này chỉ là quy đổi lịch, dùng để xác định thời điểm của tư liệu gia đình.