Ở hội quán người Hoa, hoành phi là tấm biển ngang treo cao, câu đối là hai vế treo hoặc khắc trên hai cột đối xứng; hoành phi cổ đọc từ phải sang trái, câu đối đọc từ trên xuống, vế trên ở phía bên phải của người đứng nhìn vào. Hàng chữ nhỏ bên cạnh gọi là lạc khoản, ghi người tặng và năm làm, thường là manh mối lịch sử quý nhất của cả tấm.
Biết vài quy tắc này, người đi thăm hội quán Phúc Kiến, Quảng Triệu, Triều Châu, Hải Nam ở Hội An (nay thuộc Đà Nẵng) hay các hội quán ở miền Tây có thể tự đọc được phần khung của một bộ câu đối, dù chưa biết nhiều chữ. Bài này giới thiệu cách đọc, các kiểu chữ, các cụm chữ hay gặp và cách xem, chụp, ghi chép cho đúng mực ở một di tích.
Hoành phi, câu đối, lạc khoản: tên gọi và vị trí
Hoành phi (橫匾) là tấm biển gỗ nằm ngang, thường sơn son thếp vàng hoặc nền đen chữ vàng, treo ở chính giữa phía trên cửa hoặc trên gian thờ. Trên hoành phi thường chỉ có ba đến bốn chữ lớn nêu tên nơi chốn hoặc một ý ca ngợi.
Câu đối (對聯) gồm hai vế dài bằng nhau, treo hoặc khắc dọc trên hai cột, hai bên cửa. Ở hội quán, câu đối có thể là tấm gỗ cong ôm theo cột (gọi là liễn ốp cột), có thể khắc thẳng vào cột đá, có thể đắp nổi trên tường. Một hội quán lớn có hàng chục bộ câu đối, mỗi bộ do một người hoặc một nhóm cúng tặng vào một năm khác nhau.
Ngoài hoành phi và câu đối còn có cuốn thư (tấm biển hình cuộn giấy mở), bia đá ghi việc trùng tu và danh sách người góp công, cùng các mảng chạm khắc có chữ nhỏ xen giữa hoa lá. Mỗi loại có cách đọc giống nhau về thứ tự, chỉ khác vị trí đặt.
Lạc khoản (落款) là những dòng chữ nhỏ ở đầu và cuối hoành phi hoặc dọc mép câu đối. Dòng đầu thường ghi thời điểm, dòng cuối ghi tên người tặng, quê quán, đôi khi kèm chữ "kính tặng", "kính phụng". Dấu triện đỏ, nếu có, là con dấu của người viết chữ.
Với người tìm hiểu lịch sử cộng đồng, lạc khoản quan trọng hơn cả câu chữ chính. Đọc lạc khoản của tất cả câu đối trong một hội quán có thể dựng lại danh sách những gia đình, những thương hiệu buôn bán từng góp sức, và các lần trùng tu qua từng thời kỳ.
Đọc theo thứ tự nào
Hoành phi cổ đọc từ phải sang trái. Lối viết chữ Hán truyền thống đi từ phải sang trái, nên phần lớn hoành phi ở hội quán cũ đọc chữ bên phải trước. Một số biển làm về sau viết từ trái sang phải. Cách nhận biết chắc nhất là nhìn lạc khoản: dòng ghi năm tháng đứng ở đầu, tức là bên phải nếu biển đọc từ phải sang trái.
Câu đối đọc từ trên xuống. Mỗi vế là một cột chữ dọc, đọc từ chữ trên cùng xuống chữ dưới cùng. Đôi khi một chữ lớn đặt ngang ở đỉnh cột là chữ trang trí riêng, không thuộc vế đối.
Vế trên ở bên phải người nhìn. Theo nếp truyền thống, vế trên (thượng liên) treo ở cột bên phải khi đứng đối diện, vế dưới (hạ liên) ở cột bên trái. Thứ tự này cũng khớp với lối đọc từ phải sang trái của hoành phi treo giữa.
Kiểm bằng thanh chữ cuối. Câu đối chuẩn thường kết vế trên bằng chữ thanh trắc, vế dưới bằng chữ thanh bằng (theo âm Hán cổ, gần đúng với âm Hán Việt). Khi không chắc vế nào trước, đọc chữ cuối mỗi vế bằng âm Hán Việt: chữ cuối mang thanh sắc, hỏi, ngã, nặng thường là vế trên.
Hai vế đối nhau từng chữ. Số chữ hai vế bằng nhau, danh từ đối danh từ, số đối số, màu đối màu. Biết điều này, khi đọc được một vế, người đọc có thể đoán nghĩa nhiều chữ khó ở vế kia.
Các kiểu chữ hay gặp trên hoành phi, câu đối
Không phải tấm nào cũng viết bằng chữ in quen thuộc. Người viết chọn kiểu chữ theo vị trí và tính trang trọng; nhận ra kiểu chữ giúp biết nên tra ở đâu.
| Kiểu chữ | Nhận ra bằng gì | Hay gặp ở đâu | Độ khó khi đọc |
|---|---|---|---|
| Khải thư (楷書) | Nét vuông vức, rõ ràng, giống chữ in | Câu đối, bia trùng tu, lạc khoản | Dễ nhất |
| Lệ thư (隸書) | Chữ dẹt bè ngang, nét mác vểnh như đuôi én | Hoành phi, câu đối trang trọng | Đọc được nếu đã quen khải thư |
| Hành thư (行書) | Nét nối nhẹ, viết nhanh nhưng còn dễ nhận | Câu đối thư pháp, tranh chữ | Trung bình |
| Thảo thư (草書) | Nét liền một mạch, nhiều chữ chỉ còn dáng | Tranh chữ, câu đối nghệ thuật | Khó, cần người chuyên |
| Triện thư (篆書) | Nét đều, uốn tròn, dáng cổ | Con dấu đỏ, đôi khi chữ trên đỉnh bia | Khó, cần bảng tra triện |
Khi dùng ứng dụng nhận chữ bằng camera, kết quả với khải thư in rõ thường khá tốt, với lệ thư tạm được, còn với thảo thư và triện thư thì hay sai. Luôn đối chiếu kết quả máy với hình chữ trên ảnh, đừng chép nguyên.
Những chữ và cụm chữ hay gặp
Các hội quán khác nhau về nội dung thờ tự và lịch sử, nhưng có một vốn chữ lặp đi lặp lại. Thuộc vài chục chữ dưới đây, người xem đã đọc được phần khung của nhiều tấm.
- Tên nơi chốn: 會館 (hội quán), 天后宮 (Thiên Hậu cung), 關帝廟 (Quan Đế miếu), 福德祠 (Phúc Đức từ), 公所 (công sở, nơi hội họp).
- Danh xưng nhân vật được thờ: 天后聖母 (Thiên Hậu Thánh Mẫu), 關聖帝君 (Quan Thánh Đế Quân), 福德正神 (Phúc Đức Chính Thần, ông Địa của người Hoa), 本頭公 (Bổn Đầu Công, ông Bổn).
- Cụm ca ngợi: 義薄雲天 (nghĩa bạc vân thiên, nghĩa khí cao tới mây trời, hay gặp ở nơi thờ Quan Công), 國泰民安 (quốc thái dân an), 風調雨順 (phong điều vũ thuận), 合境平安 (hợp cảnh bình an, cả vùng yên ổn).
- Chữ chỉ việc xây sửa: 重修 (trùng tu), 建 (kiến, dựng), 立 (lập), 敬送 / 敬奉 (kính tống, kính phụng, kính tặng).
- Chữ chỉ thời gian: 歲次 (tuế thứ, năm thứ), 孟春 / 仲春 / 季春 (tháng đầu, giữa, cuối mùa xuân), 吉旦 / 穀旦 (cát đán, cốc đán, "ngày lành" theo lối văn tự).
- Chữ chỉ người tặng: 弟子 (đệ tử), 信士 (tín sĩ), 合眾 (hợp chúng, cả cộng đồng), cùng tên hiệu buôn thường kết thúc bằng 號 (hiệu) hoặc 行 (hàng, hãng).
Những chữ trên là từ vựng văn tự của di tích. Đọc chúng là để hiểu tấm biển nói gì và ai làm nó, không phải để thực hành nghi lễ. Mỗi hội quán có câu chuyện riêng; người trông coi hoặc bảng giới thiệu tại chỗ là nguồn cần hỏi trước tiên.
Đọc lạc khoản: lịch sử nằm trong hàng chữ nhỏ
Dòng ghi thời gian trong lạc khoản thường có ba phần: niên hiệu hoặc can chi của năm, tháng theo cách gọi văn chương, và chữ "ngày lành". Ví dụ giả định: 歲次甲寅孟夏吉旦 đọc là "tuế thứ Giáp Dần, mạnh hạ, cát đán", nghĩa là ngày lành tháng đầu mùa hạ năm Giáp Dần.
Năm can chi lặp lại sau sáu mươi năm, nên một tấm ghi "Giáp Dần" có thể thuộc nhiều thế kỷ khác nhau. Muốn biết chính xác, cần thêm manh mối: niên hiệu đi kèm nếu có, kiểu chữ, chất liệu, tên người tặng xuất hiện ở tư liệu khác, hoặc hồ sơ di tích của địa phương.
Dòng tên người tặng cho biết quan hệ của người đó với cộng đồng. Có tấm ghi một người kèm quê ở huyện nào bên Quảng Đông, Phúc Kiến; có tấm ghi tên một hiệu buôn; có tấm ghi "hợp chúng" tức cả bang cùng góp. Khi chép lại lạc khoản của nhiều tấm, người nghiên cứu thấy được mạng lưới gia đình và thương hiệu đã nuôi hội quán qua nhiều đời.
Với con cháu, tìm thấy tên ông cố trên một tấm câu đối là một khoảnh khắc đặc biệt. Nhiều gia đình người Hoa ở Hội An và miền Tây đã xác định được quê gốc, đời cư trú, nghề buôn của tổ tiên nhờ một dòng lạc khoản như vậy.
Câu đối khảm tên và những lối chơi chữ
Một lối quen thuộc ở hội quán là câu đối khảm tên: chữ đầu của hai vế ghép lại thành tên hội quán hoặc tên nơi chốn. Ví dụ giả định: một hội quán tên "An Hoà" có thể treo câu đối mà vế trên mở bằng chữ 安 (an), vế dưới mở bằng chữ 和 (hoà). Nhận ra lối này giúp đọc nhanh, vì biết trước hai chữ đầu là gì.
Có câu đối khảm tên quê: chữ đầu hai vế ghép thành tên phủ, huyện của bang, nhắc người đi xa nhớ gốc. Có câu đối dùng điển tích, nhắc chuyện nhân vật được thờ, cần biết điển mới hiểu hết ý.
Lối chơi chữ khác là đối số và đối địa danh: vế trên nhắc "biển", vế dưới nhắc "núi"; vế trên nhắc nơi đi, vế dưới nhắc nơi đến. Nhiều câu đối ở hội quán nói chuyện vượt biển làm ăn, lập nghiệp ở đất mới, bằng ngôn ngữ trang trọng của văn chương cổ.
Khi tự dịch, nên dịch thành hai câu song song có nhịp, giữ phép đối, rồi viết thêm một dòng giải nghĩa thoáng. Dịch từng chữ sát nghĩa thường ra câu tiếng Việt khó hiểu, mất cái hay của phép đối.
Đi xem và chụp ảnh ở hội quán cho đúng mực
Hội quán vừa là di tích vừa là nơi sinh hoạt của cộng đồng. Người đến đọc chữ, chụp ảnh nên giữ vài nguyên tắc:
- Hỏi người trông coi trước khi chụp ở gian thờ, nhất là vào ngày lễ hoặc khi có người đang hành lễ.
- Không dùng đèn flash với tấm sơn son thếp vàng cũ, không chạm tay, không dựa thang, ghế vào cột chạm.
- Chụp mỗi tấm hai lần: một ảnh toàn thể để thấy vị trí, một ảnh gần để đọc chữ, thêm ảnh riêng cho lạc khoản.
- Ghi chú ngay vị trí tấm đó: gian nào, cột nào, bên phải hay bên trái khi nhìn vào, để sau ghép đúng cặp vế.
- Khi công bố bản chép, ghi rõ tên hội quán, ngày chụp và phần nào chưa đọc chắc.
Một bản chép cẩn thận, chia sẻ lại cho ban quản lý hội quán, đôi khi trở thành tư liệu quý khi tấm gỗ gốc phai mờ theo thời gian.
Nếu đi theo nhóm, nên chia việc: một người chụp, một người ghi vị trí, một người đọc thử tại chỗ và đánh dấu chữ khó. Về nhà ghép ba phần lại, đối chiếu ảnh, sẽ nhanh hơn nhiều so với một người làm hết, và ít bỏ sót những tấm treo cao, khuất sáng.
Câu hỏi thường gặp
Không biết chữ Hán có thưởng thức được câu đối ở hội quán không?
Có. Người không biết chữ vẫn thấy được nghệ thuật thư pháp, chạm khắc, sơn thếp, và có thể đọc bảng giới thiệu tại chỗ. Biết thêm quy tắc đọc vế trên, vế dưới, lạc khoản và vài chục chữ hay gặp sẽ giúp người xem hiểu được khung của tấm, phần còn lại có thể hỏi người trông coi.
Câu đối ở hội quán khác câu đối Tết ở nhà thế nào?
Câu đối Tết dán ở nhà thường viết trên giấy đỏ, nội dung chúc phúc cho năm mới, thay mỗi năm. Câu đối ở hội quán làm bằng gỗ, đá, tồn tại lâu dài, nội dung ca ngợi nơi chốn, nhân vật được thờ hoặc ghi nhớ công đức, kèm lạc khoản ghi người tặng và năm làm.
Vì sao cùng một chữ mà mỗi người đọc một âm?
Chữ Hán có thể đọc theo âm Hán Việt, tiếng Phổ thông hoặc phương ngữ của bang. Người Việt thường đọc Hán Việt, người Hoa đọc theo tiếng của mình. Nghĩa không đổi. Khi ghi chép nên ghi chữ Hán gốc kèm âm Hán Việt để người đọc ở đâu cũng đối chiếu được.
Có thể nhờ ai đọc giúp những tấm khó?
Có thể hỏi ban quản lý hội quán, người lớn tuổi trong bang, các nhà nghiên cứu Hán Nôm, giảng viên ngành ngữ văn Trung Quốc. Gửi ảnh rõ, có ảnh toàn thể lẫn ảnh gần, ghi vị trí từng tấm. Với chữ thảo, chữ triện, cần người chuyên sâu, nên chấp nhận một số chữ còn để ngỏ.
Ứng dụng dịch bằng camera có dịch được câu đối không?
Ứng dụng nhận ra được nhiều chữ khải thư rõ nét, nhưng câu đối dùng văn ngôn, điển tích, phép đối nên bản dịch máy thường lủng củng hoặc sai ý. Dùng ứng dụng để nhận chữ là hợp lý, còn hiểu nghĩa thì cần từ điển Hán Việt và kiến thức về điển cố, hoặc nhờ người biết chữ.
Hoành phi trong nhà người Hoa có giống ở hội quán không?
Cùng hình thức nhưng nhỏ hơn và nội dung gần gũi gia đình hơn, như tên đường (tên phòng thờ của dòng họ), câu nhắc đạo hiếu, câu nhắc quê gốc. Lạc khoản ghi người làm, năm làm vẫn là manh mối quan trọng khi tìm hiểu lịch sử gia đình.