Một hội quán người Hoa điển hình gồm cổng hoặc tiền đường, một khoảng sân giếng trời ở giữa, rồi đến chính điện thờ vị thần chính, phía sau có thể có hậu điện thờ tiền hiền; mái lợp ngói ống, bờ nóc đặt tượng gốm, bên trong là hệ vì kèo gỗ chạm khắc, sơn son thếp vàng. Đọc được bố cục và vài chi tiết chính giúp nhận ra hội quán thuộc nhóm nào, xây vào thời nào và cộng đồng lập ra nó giàu tới đâu.
Bài này đi từ ngoài vào trong: bố cục, mái và gốm, kết cấu gỗ, đá và đắp nổi, các hoạ tiết hay gặp, khác biệt giữa kiến trúc Phúc Kiến, Quảng Đông, Triều Châu, rồi chuyện trùng tu. Ví dụ lấy từ các hội quán ở Hội An, Chợ Lớn, Singapore, Penang, những nơi khách dễ tới xem tận mắt.
Bố cục: tiền đường, sân giếng trời và chính điện
Bước qua cổng, khách thường vào tiền đường, một gian ngang có mái, hai bên đặt chuông trống hoặc bàn tiếp khách. Qua tiền đường là sân giếng trời, khoảng trống không mái lấy sáng và gió cho cả công trình, nơi đặt lư hương lớn và treo những vòng nhang to. Sau sân là chính điện, cao hơn và trang trọng hơn, đặt bàn thờ vị thần chính. Một số hội quán có thêm hậu điện phía sau thờ tiền hiền, người có công lập hội.
Hai bên sân thường có dãy nhà phụ, dùng làm văn phòng hội, phòng họp, bếp, kho, và ở nhiều nơi xưa kia là lớp học hoặc chỗ ở tạm của người mới đến. Toàn bộ khép kín bằng tường bao, mặt tiền nhìn ra phố, bên trong là một thế giới riêng yên tĩnh.
Các nghiên cứu về kiến trúc đền miếu Nam Bộ thường gọi tên bố cục bằng hình chữ Hán khi nhìn từ trên xuống: chữ nhị (二) khi có hai dãy nhà song song, chữ tam (三) khi có ba dãy, chữ khẩu (口) khi bốn phía khép quanh sân. Nhiều hội quán lớn ở Chợ Lớn có bố cục được mô tả là "nội công ngoại quốc": phía trong các gian nối nhau như chữ công (工), bên ngoài bao kín như chữ quốc (國).
Cách đọc nhanh: đứng ở tiền đường nhìn thẳng vào trong. Nếu thấy sân giếng trời rộng, chính điện cao vượt hẳn và dãy nhà phụ dài hai bên, đó là hội quán của một cộng đồng giàu, lập vào lúc cộng đồng đang phát đạt.
Mái ngói ống và tượng gốm trên bờ nóc
Mái hội quán thường lợp ngói ống, hàng ngói úp và ngói ngửa xen kẽ, nhiều nơi tráng men xanh lục hoặc vàng ở mép mái. Bờ nóc và bờ chảy là nơi trang trí dày nhất của cả công trình, nhìn từ sân lên là thấy ngay.
Trên bờ nóc, các nhóm tượng gốm nhỏ đặt thành cảnh, kể các tích truyện quen thuộc như các trận đánh thời Tam Quốc, tích bát tiên, hay cảnh sinh hoạt thường ngày. Giữa nóc thường là đôi rồng chầu một viên ngọc hoặc một hình mặt trời, hai đầu mái có cá chép hoặc rồng uốn lên. Ở một số hội quán lớn tại Chợ Lớn, gốm trang trí mái được cho là đặt làm ở vùng Phật Sơn bên Quảng Đông, mang theo dấu lò ghi trên chân tượng.
Ở Nam Bộ còn có gốm Cây Mai, sản phẩm của các lò gốm người Hoa ở Chợ Lớn xưa, với men xanh, vàng, nâu đặc trưng, dùng cho tượng mái, đôn, chậu. Nhìn kỹ tượng gốm trên mái là cách nhận ra một hội quán được trang trí bằng hàng mang từ quê hay hàng làm tại chỗ.
Tượng gốm trên mái chịu nắng mưa trực tiếp nên là phần xuống cấp nhanh nhất. Khi xem ảnh cũ của một hội quán, so sánh hàng tượng trên mái với hiện tại thường thấy rõ nhất những lần trùng tu: tượng gãy được thay, màu men mới sáng hơn hẳn màu cũ.
Gỗ, đá và đắp nổi: ba lớp trang trí bên trong
Vì kèo chồng rường. Bên trong chính điện, mái được đỡ bởi hệ vì kèo nhiều tầng xếp chồng, mỗi đầu rường, đầu kèo là một mảng chạm: hoa lá, chim muông, cá, rồng. Ở hội quán giàu, cả hệ khung được sơn son thếp vàng, ánh lên trong khói nhang.
Cửa võng và bao lam. Phía trước bàn thờ thường có cửa võng hoặc bao lam chạm thủng nhiều lớp, tạo chiều sâu. Đây là phần thợ chạm thể hiện tay nghề rõ nhất; hội quán Triều Châu ở Hội An nổi tiếng nhờ những mảng chạm loại này.
Cột và chân tảng. Cột gỗ lớn đặt trên chân tảng đá để tránh ẩm. Một số hội quán dùng cột đá chạm rồng cuốn quanh thân, nhất là ở mặt tiền. Theo truyền khẩu ở nhiều nơi, đá xanh được chở từ quê sang làm vật dằn khoang thuyền, tới nơi thì dùng xây hội quán.
Đắp nổi vữa và tranh tường. Tường hồi, đầu hồi, mặt tiền thường có phù điêu đắp vữa tô màu hoặc tranh vẽ trực tiếp lên tường: cảnh núi non, chim hoa, điển tích. Lớp này mỏng và dễ bong nên ít nơi còn nguyên bản.
Đôi sư tử đá ở cửa. Hai bên cửa chính thường có đôi sư tử đá: con bên trái đặt chân lên quả cầu, con bên phải đặt chân lên sư tử con. Đôi tượng này có mặt ở hầu hết hội quán và miếu của người Hoa khắp nơi.
Hoạ tiết hay gặp và nghĩa được gán
Hoạ tiết trang trí trong hội quán thường mang nghĩa chúc phúc dựa vào cách đọc đồng âm trong tiếng Hoa hoặc vào điển tích. Bảng dưới liệt kê các hoạ tiết dễ nhận ra; đây là ý nghĩa văn hoá phổ biến, không phải quy tắc bắt buộc.
| Hoạ tiết | Nghĩa phổ biến | Thường đặt ở đâu |
|---|---|---|
| Con dơi | Phúc, vì chữ dơi (蝠) đọc gần chữ phúc (福) | Đầu kèo, ô cửa, viền tranh |
| Quả đào | Sống lâu, gắn với tích đào tiên | Cửa võng, bàn thờ, tranh tường |
| Cá chép vượt sóng | Cố gắng vươn lên, đỗ đạt | Đầu mái, bờ nóc, chạm gỗ |
| Rồng và phượng | Uy nghi, tốt lành, dùng cho nơi thờ trang trọng | Bờ nóc, cột đá, cửa võng |
| Hoa mẫu đơn | Giàu sang, sung túc | Chạm gỗ, đắp nổi, gốm |
| Tùng, hạc | Sống lâu, thanh cao | Tranh tường, chạm gỗ hậu điện |
| Bát tiên | Tám vị tiên trong truyện dân gian, chúc mừng, may mắn | Bờ nóc, bao lam, đồ thờ |
Đọc hoạ tiết giống đọc một câu chúc viết bằng hình. Nhiều mảng chạm ghép nhiều hoạ tiết với nhau, ví dụ dơi bay quanh quả đào là chúc vừa có phúc vừa sống lâu. Khi xem, thử tìm những cặp ghép như vậy thay vì chỉ nhìn từng con vật.
Khác biệt giữa kiến trúc Phúc Kiến, Quảng Đông, Triều Châu
Thợ được mời từ quê sang mang theo kiểu nghề của vùng mình, nên kiến trúc hội quán của mỗi nhóm có vài dấu nhận biết. Ranh giới không tuyệt đối, vì thợ các nhóm làm chung và học lẫn nhau.
| Nhóm | Dấu nhận biết hay gặp | Ví dụ dễ xem |
|---|---|---|
| Phúc Kiến | Bờ nóc cong vút, hai đầu tách như đuôi én; mái thanh, nhiều tầng | Hội quán Phúc Kiến ở Hội An, các kongsi ở Penang, Thiên Phúc cung ở Singapore |
| Quảng Đông | Tường gạch xám xanh, đầu hồi uốn cong hình tai chảo; bờ nóc gốm nhiều tầng tượng | Hội quán Quảng Triệu ở Hội An, các hội quán Quảng Đông ở Chợ Lớn |
| Triều Châu | Khảm sành: ghép mảnh sứ màu cắt nhỏ thành hình rồng, hoa, người trên mái; chạm gỗ thếp vàng rất dày | Hội quán Triều Châu ở Hội An, miếu Việt Hải Thanh ở Singapore |
| Hải Nam, Hẹ | Thường quy mô nhỏ hơn, trang trí giản dị hơn, mượn nhiều kiểu từ nhóm đông hơn nơi đó | Hội quán Hải Nam ở Hội An |
Khảm sành của người Triều Châu là chi tiết dễ nhận ra nhất: lại gần sẽ thấy hình rồng trên mái không phải đúc nguyên khối mà ghép từ hàng trăm mảnh chén bát cắt theo đường cong. Kỹ thuật này vừa tiết kiệm vừa chịu nắng mưa tốt hơn sơn.
Hai mươi phút trong một hội quán: nhìn theo thứ tự nào
Khách thường bước vào, nhìn bàn thờ rồi đi ra. Thứ tự dưới đây giúp thấy được nhiều hơn trong cùng một khoảng thời gian, áp dụng được cho hội quán ở Hội An, Chợ Lớn lẫn Penang.
- Đứng ngoài phố nhìn toàn bộ mặt tiền và đường mái: mái cong vút hay phẳng, đầu hồi hình gì, bờ nóc có bao nhiêu tầng tượng.
- Ở cổng, nhìn đôi sư tử đá, cánh cửa vẽ thần giữ cửa và bậc cửa cao; để ý vật liệu đá, gỗ của khung cửa.
- Vào tiền đường, ngẩng lên xem vì kèo gian đầu, thường là phần chạm khắc đẹp nhất mà khách hay bỏ qua vì mải nhìn vào trong.
- Ra giữa sân giếng trời, quay một vòng: nhìn mái từ bên trong, tượng gốm trên bờ nóc dãy nhà phụ, lư hương lớn, các vòng nhang.
- Vào chính điện, đứng lùi lại nhìn cửa võng trước bàn thờ, rồi nhìn hai bên tường tìm bia công đức và các mảng đắp nổi.
- Nếu có hậu điện, xem gian thờ tiền hiền: đây thường là nơi yên tĩnh nhất và giữ nhiều cấu kiện cũ nhất.
- Trước khi ra, quay lại sân nhìn ngược về cổng: góc nhìn này cho thấy rõ cách bố cục dẫn người vào từ ồn ào ngoài phố tới chỗ trang nghiêm nhất.
Mang theo một chiếc ống nhòm nhỏ hoặc dùng chế độ phóng to của máy ảnh để xem tượng gốm trên mái; nhiều chi tiết đẹp nhất nằm ở chỗ mắt thường không thấy rõ từ dưới sân.
Trùng tu: giữ cái cũ hay thay cho bền
Hội quán là công trình gỗ, gốm và vữa trong khí hậu nóng ẩm, nhiều nơi ngập lụt hằng năm, nên xuống cấp nhanh. Hầu hết hội quán cổ đã qua nhiều lần trùng tu; một công trình "thế kỷ 18" có thể chỉ còn bố cục và một số cấu kiện gốc, phần còn lại thay qua các đời.
Câu hỏi khó nhất của mỗi lần trùng tu là giữ hay thay. Giữ cấu kiện cũ thì phải xử lý mối mọt, gia cố, tốn công và đòi thợ giỏi; thay mới thì nhanh, bền hơn nhưng mất dấu thời gian. Lớp sơn son thếp vàng mới tinh, tượng gốm men bóng thay cho tượng cũ phai màu là kiểu thay đổi khách hay thấy, và cũng là kiểu gây tranh luận nhiều nhất trong giới nghiên cứu.
Ở Việt Nam, các hội quán được xếp hạng di tích phải trùng tu theo quy định về di tích, có hồ sơ và sự thẩm định của cơ quan văn hoá. Ở Penang, Singapore, nhiều dự án trùng tu kongsi và miếu mời chuyên gia bảo tồn, thợ thủ công từ nơi khác sang, và một số công trình đã nhận giải thưởng bảo tồn di sản của khu vực.
Với khách xem, biết chuyện trùng tu giúp đọc đúng: thấy chỗ nào mới, chỗ nào cũ, và đánh giá được công sức của cộng đồng đã bỏ ra để giữ ngôi nhà chung qua nhiều thế hệ.
Câu hỏi thường gặp
Hội quán và đình làng Nam Bộ khác nhau thế nào về kiến trúc?
Đình làng của người Việt thường có mái lợp ngói âm dương thấp, rộng, võ ca phía trước, ít gốm trên bờ nóc. Hội quán người Hoa có sân giếng trời, bờ nóc trang trí gốm dày, tường bao kín, mặt tiền nhìn ra phố. Một số đình Nam Bộ chịu ảnh hưởng kiến trúc Hoa, nên ranh giới không phải lúc nào cũng rõ.
Vòng nhang lớn treo trong sân hội quán có ý nghĩa gì?
Đó là nhang vòng, cuộn xoắn từ nhỏ đến lớn, đốt được nhiều ngày, thường do người đến lễ dâng kèm mảnh giấy đỏ ghi tên và lời cầu. Ngoài ý nghĩa nghi lễ, nhang vòng là hình ảnh đặc trưng của hội quán người Hoa, tạo nên màn khói và mùi hương quen thuộc.
Chụp ảnh kiến trúc hội quán nên chú ý gì?
Đi vào buổi sáng khi ánh sáng từ sân giếng trời chiếu xiên vào chính điện. Mang ống kính góc rộng cho bố cục, ống tele cho chi tiết trên mái. Tránh đèn chớp vì làm hỏng lớp sơn cũ và làm phiền người lễ, hỏi người giữ miếu trước khi chụp điện thờ.
Có thể nhận ra niên đại hội quán từ kiến trúc không?
Chỉ ước lượng được. Bia đá ghi năm xây dựng và các đợt trùng tu là nguồn chắc nhất. Kiến trúc cho gợi ý: gạch, ngói, kỹ thuật gỗ, kiểu gốm thay đổi theo thời. Nhưng vì trùng tu nhiều lần, một hội quán có thể mang dấu của nhiều thời kỳ trên cùng một công trình.
Vì sao gốm trên mái hội quán thường kể chuyện Tam Quốc?
Tích Tam Quốc rất phổ biến trong đời sống người Hoa qua tiểu thuyết, hát kịch và tranh dân gian, lại có nhiều cảnh hành động hợp để đắp tượng. Hình ảnh Quan Công, vị thần được nhiều hội quán thờ, cũng xuất phát từ tích này. Bên cạnh đó còn có tích bát tiên, truyện dân gian và cảnh đời thường.
Thợ chạm khắc, thợ gốm cho hội quán ngày nay ở đâu?
Số thợ giỏi các kỹ thuật cũ như khảm sành, chạm gỗ nhiều lớp không còn nhiều. Một số dự án trùng tu mời thợ từ các vùng nghề truyền thống, một số đào tạo thợ trẻ tại chỗ. Ở Việt Nam, vài gia đình thợ ở Hội An và TP.HCM vẫn giữ nghề, thường nhận việc qua các dự án tu bổ di tích.