HoaKieu.comHoa Kiều
Hội quán, bang và hội đồng hương

Ngũ bang người Hoa ở Nam Kỳ xưa: năm bang là gì và bang trưởng làm những việc gì

Ngũ bang là năm nhóm Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hẹ, Hải Nam. Bang trưởng được bầu ra làm gì, bang lo trường, bệnh viện, nghĩa trang ra sao và còn lại gì.

Five elderly men in dark jackets seated around a round wooden table in a dim assembly hall, seen from behind, teacups and an abacus

Ngũ bang là cách gọi năm nhóm người Hoa ở Nam Kỳ xưa chia theo phương ngữ và quê gốc: Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hẹ (Khách Gia) và Hải Nam. Mỗi bang có một bang trưởng do người trong bang bầu ra, làm đầu mối với chính quyền thời đó, đứng ra bảo lãnh người mới đến, giữ trật tự trong bang và điều hành các việc chung như hội quán, trường học, nghĩa trang, bệnh viện.

Hệ thống bang theo nghĩa hành chính đã không còn từ lâu, nhưng dấu vết của nó vẫn hiện rõ trong tên hội quán, tên trường, tên các bệnh viện cũ và trong cách người Hoa lớn tuổi ở TP.HCM, Cần Thơ, An Giang tự giới thiệu mình: "nhà tui bang Triều", "ông nội bang Quảng". Bài này giải thích năm bang là ai, bang được tổ chức thế nào, bang trưởng làm gì và đọc dấu vết ngũ bang ở đâu hôm nay.

Chữ "bang" nghĩa là gì và vì sao lại là năm

Chữ bang (幫) gốc nghĩa là giúp đỡ, kết thành nhóm. Trong đời sống người Hoa xa quê, bang chỉ nhóm người cùng phương ngữ và cùng vùng gốc, cùng nhau làm ăn, giúp nhau và chịu trách nhiệm chung. Người cùng bang nói được với nhau, ăn cùng kiểu món, thờ cùng những vị thần quen thuộc, nên tự nhiên tụ lại một khu.

Con số năm không cố định ngay từ đầu. Tư liệu về thời kỳ trước có nhắc đến cách chia nhiều nhóm hơn, theo từng phủ quê gốc. Dần dần, khi các nhóm nhỏ nhập lại hoặc được xếp chung, Nam Kỳ ổn định ở năm nhóm lớn, và chữ "ngũ bang" thành cách gọi chung cho cả cộng đồng người Hoa ở vùng này. Hội quán chung của các bang ở nhiều thị trấn miền Tây vì thế có tên "Ngũ Bang hội quán".

Cần phân biệt người Minh Hương với ngũ bang. Minh Hương là con cháu những lớp người Hoa đến sớm, nhiều người lấy vợ Việt, được tổ chức thành làng, xã Minh Hương riêng và dần hoà vào cộng đồng người Việt. Ở Chợ Lớn có Minh Hương Gia Thạnh hội quán, ở Hội An có Minh Hương tụy tiên đường; đó là nơi của người Minh Hương, không thuộc bang nào trong năm bang.

Năm bang: quê gốc, phương ngữ và nghề quen thời trước

Bảng dưới tóm tắt năm bang theo các tư liệu về người Hoa ở Nam Bộ. Nghề "quen" ở đây là nghề mà nhiều gia đình trong bang từng làm vào cuối thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20, do mạng lưới đồng hương dắt nhau vào nghề; không có nghĩa người trong bang chỉ làm nghề ấy.

BangQuê gốc chínhPhương ngữNghề nhiều gia đình từng làm
Quảng ĐôngVùng Quảng Châu, Triệu Khánh, Phật Sơn, Đài SơnTiếng Quảng (Quảng Châu thoại)Nhà hàng, tiệm thuốc bắc, thợ mộc, cơ khí, buôn bán lớn ở Chợ Lớn
Phúc KiếnVùng Tuyền Châu, Chương Châu, Hạ MônTiếng Mân NamBuôn gạo, tàu buôn, hàng hải sản, tiệm vải
Triều ChâuVùng Triều Châu, Sán Đầu (phía đông Quảng Đông)Tiếng Triều ChâuBuôn lúa gạo miền Tây, tạp hoá, rau quả, nghề đồng ruộng
Hẹ (Khách Gia)Vùng Mai Châu, Huệ Châu và các nơi người Hẹ sốngTiếng HẹThuốc bắc, thợ giày, thợ may, làm đồ gốm, trồng trọt
Hải NamĐảo Hải Nam, vùng Văn Xương, Quỳnh SơnTiếng Hải NamQuán ăn, phục vụ trên tàu, buôn hàng khô, đánh cá

Các nghề trên thay đổi rất nhiều qua thời gian và giữa các thành phố. Một gia đình bang Triều ở Sóc Trăng có thể buôn lúa, trong khi một gia đình bang Triều ở Chợ Lớn lại làm tiệm bánh. Bảng chỉ dùng để hiểu vì sao ở một con phố cũ, các tiệm cùng nghề thường nói chung một phương ngữ.

Bang được tổ chức thế nào

Đứng đầu mỗi bang là bang trưởng, có khi kèm một hoặc hai phó bang. Người được chọn thường là thương nhân có tài sản, có tiếng, nói được tiếng bản xứ và quen việc giấy tờ. Họ được những người đứng đầu các gia đình trong bang bầu lên theo nhiệm kỳ, và theo các tư liệu về thời Pháp thuộc, việc bầu phải được chính quyền thời đó chấp thuận mới có hiệu lực.

Bên dưới bang trưởng là các hội quán của từng nhóm quê, mỗi nơi có ban trị sự riêng. Bang không phải một toà nhà, mà là một mạng lưới: nhiều hội quán, nhiều hội họ, nhiều hội nghề, cùng nhận một người đứng đầu chung. Ở thành phố lớn như Chợ Lớn, bộ máy của bang có người giữ sổ, người thu góp, người lo việc tang ma, người lo trường.

Mỗi người Hoa mới đến thời đó thường phải ghi tên vào một bang theo phương ngữ của mình. Đây là điểm khác lớn giữa bang và hội đồng hương ngày nay: hội đồng hương là tự nguyện, còn bang thời ấy gần như là đơn vị mà ai cũng thuộc về một nơi. Vì vậy sổ sách của bang, nếu còn giữ được, là nguồn tư liệu quý cho người tìm gốc gác ông bà.

Tiền của bang đến từ đóng góp của các gia đình, từ phần trích của các hội quán và từ tài sản chung như nhà phố cho thuê, đất nghĩa trang. Những công trình lớn như trường, bệnh viện thường được dựng bằng các đợt quyên góp mà tên người góp được khắc lên bia.

Bang trưởng làm những việc gì

Đầu mối với chính quyền. Bang trưởng là người đại diện cho cả bang khi làm việc với chính quyền thời đó: chuyển thông báo, nộp các khoản đóng góp theo quy định, báo cáo số người trong bang. Đây là phần việc nặng trách nhiệm nhất và cũng là lý do người làm bang trưởng phải có uy tín.

Bảo lãnh người mới đến. Người vừa sang chưa có giấy tờ, chưa có chỗ ở thì cần một người đứng ra bảo đảm. Bang trưởng hoặc người được bang giao việc ghi tên họ vào sổ, giới thiệu chỗ làm và chịu trách nhiệm phần nào về họ trong thời gian đầu.

Hoà giải tranh chấp trong bang. Chuyện nợ nần, hàng hoá giao thiếu, đất đai, cả chuyện gia đình giữa người cùng bang thường được đưa ra trước bang trưởng hoặc ban trị sự hội quán. Lời phân xử dựa vào lệ làng của cộng đồng và uy tín của người đứng ra.

Lo việc phúc lợi. Bang trưởng điều phối việc dựng và duy trì trường học, phòng thuốc, bệnh viện, nghĩa trang, cứu tế người nghèo, lo tang cho người không thân nhân. Những công trình này phục vụ chủ yếu người trong bang, nhiều nơi về sau mở rộng cho mọi người.

Đứng chủ các lễ chung. Trong các dịp vía thần ở hội quán, Tết Nguyên đán, rằm tháng Giêng, bang trưởng và ban trị sự đứng chủ lễ, mời khách, lo tiếp đón. Đây là dịp mà vị trí của bang trưởng hiện ra rõ nhất trước cộng đồng.

Một người mới đến đi qua bang thế nào: ví dụ giả định

Để hình dung, hãy theo một chàng trai Triều Châu mười tám tuổi xuống thuyền ở bến Sài Gòn vào khoảng đầu thế kỷ 20 (ví dụ giả định, ghép từ các mô tả chung trong tư liệu). Trong túi anh có một lá thư của chú họ đang làm công cho một vựa lúa ở Chợ Lớn và một mảnh giấy ghi tên làng quê bên kia. Anh không nói được tiếng Việt, cũng không nói được tiếng Quảng.

Việc đầu tiên là tìm tới người của bang Triều. Người chú dẫn anh đến hội quán, nơi người giữ sổ ghi tên, tuổi, quê quán và tên người bảo lãnh. Từ lúc ấy, nếu anh gặp chuyện, bang biết anh là ai và ai chịu trách nhiệm về anh. Ban đầu anh ngủ trên gác kho của vựa lúa, ăn cơm chung với các thợ khác cùng quê, nghe toàn tiếng Triều Châu nên chưa thấy mình ở xa nhà.

Vài năm sau anh để dành được ít vốn, góp vào một dây hụi của người cùng bang để có tiền mở sạp riêng. Khi cưới vợ, ban trị sự hội quán đến dự; khi con trai lên sáu, con đi học ở trường của bang. Khi anh mất, tên anh được ghi vào sổ người mất, mộ đặt ở nghĩa trang của bang, bài vị có thể được gửi lên điện thờ hội quán nếu gia đình muốn.

Câu chuyện giả định này cho thấy vì sao với nhiều gia đình người Hoa, chữ bang không chỉ là một đơn vị hành chính cũ, mà là cả một vòng đời được cộng đồng đồng hương nâng đỡ.

Trường, bệnh viện, nghĩa trang mang dấu ngũ bang

Phần còn lại dễ thấy nhất của ngũ bang không nằm ở giấy tờ mà ở các công trình. Ở TP.HCM, một số bệnh viện lớn hiện nay vốn khởi đầu là bệnh viện do các bang người Hoa lập vào đầu thế kỷ 20, sau đổi tên và trở thành bệnh viện công phục vụ mọi người. Người lớn tuổi ở Chợ Lớn đôi khi vẫn gọi các bệnh viện ấy bằng tên bang cũ.

Trường học cũng vậy. Mỗi bang từng có trường riêng dạy chữ Hán theo phương ngữ của bang và dạy cả chữ quốc ngữ, tiếng Pháp. Học sinh bang Quảng học trường bang Quảng, bang Triều học trường bang Triều; về sau các trường này hợp lại, đổi tên, nhiều trường trở thành trường phổ thông công lập.

Nghĩa trang là phần công trình gắn chặt với bang nhất, vì việc chôn cất theo nếp quê đòi hỏi đất riêng, người trông coi riêng và sổ sách ghi người mất. Phần lớn nghĩa trang bang cũ ở nội thành đã được di dời theo quy hoạch đô thị, hài cốt chuyển về các nghĩa trang mới ngoài thành phố. Người tìm mộ ông bà thường phải hỏi qua ban trị sự hội quán của bang mình để biết mộ đã được chuyển về đâu.

Ở các tỉnh miền Tây như vùng Sóc Trăng (Cần Thơ), Bạc Liêu (Cà Mau), Rạch Giá và Hà Tiên (An Giang), dấu vết bang thường gọn hơn: một hội quán Ngũ Bang chung cho cả thị trấn, một trường Hoa văn nhỏ, một khu mộ chung. Đây là nơi tốt để thấy mô hình bang ở quy mô cộng đồng nhỏ.

Đọc dấu vết ngũ bang hôm nay

Muốn nhận ra một hội quán thuộc bang nào, cách nhanh nhất là nhìn tên. Tuệ Thành (tên cũ của Quảng Châu) là của người Quảng Đông; Nghĩa An thuộc người Triều Châu; Ôn Lăng, Hà Chương, Tam Sơn gắn với các vùng quê Phúc Kiến; Quỳnh Phủ là của người Hải Nam. Người Hẹ thì thường để lại dấu ở các hội quán mang tên vùng quê Hẹ hoặc ở các ngôi miếu thờ thần nghề.

Cách thứ hai là nhìn vị thần chính và lễ lớn trong năm. Hội quán người Phúc Kiến và Hải Nam thường thờ Thiên Hậu; hội quán người Quảng Đông hay thờ Quan Công hoặc Thiên Hậu; hội quán Triều Châu có những vị thần biển riêng của vùng duyên hải quê họ. Ngày vía của vị thần chính là ngày đông người nhất trong năm của hội quán.

Cách thứ ba là nghe. Ở các khu phố cũ tại TP.HCM, giọng Quảng vẫn nghe nhiều quanh khu Chợ Lớn cũ, giọng Triều Châu nghe nhiều ở các chợ miền Tây; người Hẹ, người Hải Nam ít hơn và thường nói tiếng Quảng hoặc tiếng Việt khi ra ngoài. Thế hệ trẻ phần lớn nói tiếng Việt và tiếng Phổ thông, nên ranh giới bang trong lời nói đang mờ đi rõ rệt.

Dù hệ thống bang đã không còn, chữ "bang" vẫn là cách nhiều gia đình tự định vị gốc gác. Với người muốn tìm hiểu quê gốc của gia đình mình, biết mình thuộc bang nào là bước đầu tiên để biết nên hỏi ở hội quán nào, đọc phương ngữ nào trên bài vị và gia phả.

Câu hỏi thường gặp

Người Hoa ở miền Bắc Việt Nam có chia ngũ bang không?

Người Hoa ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh thời trước cũng tổ chức theo quê gốc và có hội quán, nhưng cách gọi ngũ bang chủ yếu gắn với Nam Kỳ. Cơ cấu nhóm ở miền Bắc cũng khác, người Quảng Đông chiếm phần lớn, cùng một số nhóm vùng biên giới có lịch sử riêng.

Một gia đình có thể chuyển từ bang này sang bang khác không?

Về nguyên tắc, bang gắn với phương ngữ và quê gốc của người cha nên con cháu thường theo bang cha. Trong thực tế, nhiều gia đình lai giữa các bang, hoặc sống lâu giữa cộng đồng bang khác, dần sinh hoạt ở hội quán gần nhà hơn là hội quán quê cha.

Bang trưởng có được trả lương không?

Tư liệu cho thấy bang trưởng thời trước thường là thương nhân giàu, làm việc bang như một trách nhiệm và một vị thế trong cộng đồng hơn là nghề kiếm sống. Chi phí đi lại, giấy tờ được lấy từ quỹ của bang, còn uy tín có được giúp việc buôn bán của họ thuận lợi hơn.

Có còn giữ được sổ sách của các bang không?

Một phần sổ sách, bia công đức, danh sách người mất còn nằm ở các hội quán và trong lưu trữ của các cơ quan văn hoá, thư viện. Mức độ đầy đủ khác nhau rất nhiều. Người tìm tư liệu nên hỏi ban trị sự hội quán của bang mình trước, rồi mới tới thư viện và các cơ quan lưu trữ.

Người Ngái, người Sán Dìu có thuộc ngũ bang không?

Không. Người Ngái và người Sán Dìu là hai dân tộc riêng trong 54 dân tộc Việt Nam, sống chủ yếu ở miền Bắc, có quan hệ ngôn ngữ với tiếng Hẹ và tiếng Quảng. Họ có lịch sử, phong tục riêng và không được xếp vào hệ thống ngũ bang của người Hoa ở Nam Kỳ.

Ngày nay người Hoa ở Việt Nam còn dùng chữ bang trong đời sống không?

Còn, nhưng chủ yếu trong lời nói và trong tên hội quán, không còn là một tổ chức quản lý. Người lớn tuổi hay hỏi nhau "bang gì" để biết quê gốc và phương ngữ; các hội quán vẫn sinh hoạt theo nhóm quê cũ. Trên giấy tờ, người Hoa ghi dân tộc Hoa, không ghi bang.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.