HoaKieu.comHoa Kiều
Người Hoa ở Việt Nam theo vùng

Người Hoa ở Hà Nội, Phố Hiến và Hải Phòng xưa: phố buôn, hội quán và dấu vết còn lại

Người Hoa ở miền Bắc từng buôn bán ở Phố Hiến, các phố Hàng Buồm, Hàng Ngang, Lãn Ông Hà Nội và khu phố gần cảng Hải Phòng. Dấu vết nào còn đọc được hôm nay.

High angle view over a narrow old-quarter street with tube houses and tiled roofs, a cyclist and street vendor passing below, soft overcast northern light

Người Hoa ở miền Bắc từng tụ cư ở Phố Hiến (Hưng Yên) từ thế kỷ 17, ở các phố Hàng Buồm, Hàng Ngang, Mã Mây, Lãn Ông của Hà Nội, ở khu phố gần cảng Hải Phòng và vùng ven biển Quảng Ninh. Họ buôn đồ khô, bánh mứt, thuốc bắc, vải, dựng hội quán và miếu Thiên Hậu; một phần hoà vào người Việt qua nhiều đời.

Ngày nay cộng đồng người Hoa ở miền Bắc nhỏ hơn nhiều so với miền Nam, nhưng dấu vết vẫn còn trong kiến trúc, tên phố, món ăn và vài di tích. Bài này đi qua ba nơi chính, chỉ ra những gì người đi phố cổ có thể nhìn thấy và đọc được, kèm cách tìm hiểu nếu nhà mình có gốc Hoa ở miền Bắc.

Phố Hiến thế kỷ 17: "thứ nhì" sau Kinh Kỳ

Câu ca "thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến" nói về thời Phố Hiến, thuộc Hưng Yên ngày nay, là nơi tàu buôn ngoại quốc phải dừng chờ trước khi lên Thăng Long. Thế kỷ 17, ở đây có thương nhân Hoa, Nhật, Hà Lan, Anh lập thương điếm; người Hoa đông nhất và ở lâu nhất.

Người Hoa ở Phố Hiến lập phố riêng, buôn tơ lụa, thuốc bắc, đồ sứ, hàng tạp hoá. Họ dựng đền Thiên Hậu, thờ vị thần biển phù hộ người đi thuyền, và các hội quán theo quê. Đền Thiên Hậu Phố Hiến còn đến hôm nay, giữ được nhiều chi tiết chạm khắc, bia đá chữ Hán ghi tên người góp công.

Các giáo sĩ và thương nhân phương Tây đến Phố Hiến thế kỷ 17 có để lại ghi chép, tả một thị trấn ven sông có khu riêng của người Hoa, nhà gạch san sát, chợ họp đông. Nhiều tấm bia ở đền Thiên Hậu và các đền chùa trong vùng ghi tên người Hoa góp tiền, là nguồn tư liệu quý cho việc đối chiếu.

Khi sông đổi dòng và Thăng Long, rồi Hải Phòng, thay nhau thành nơi buôn bán chính, Phố Hiến lui dần thành một thị xã nhỏ. Cộng đồng người Hoa thưa đi, nhiều gia đình chuyển lên Hà Nội hoặc ra Hải Phòng. Di tích ở Phố Hiến hiện do tỉnh Hưng Yên quản lý, là điểm đến của những ai muốn hiểu thương mại Đàng Ngoài.

Hà Nội: những con phố của người Hoa trong 36 phố phường

Trong khu phố cổ Hà Nội, người Hoa từng tập trung ở một vệt phố gần sông: Hàng Buồm, Hàng Ngang, Mã Mây, Lãn Ông và vài phố quanh đó. Mỗi phố có nghề nổi bật. Hàng Buồm nổi tiếng với đồ khô, bánh mứt kẹo; Lãn Ông là phố thuốc bắc; Hàng Ngang buôn vải, tơ lụa.

Tên phố cũng là một lớp ký ức. Người Hà Nội xưa quen gọi cả vệt phố này là "phố Khách", và nhiều cụ cao tuổi đến nay vẫn nói "ra phố Khách mua đồ khô" khi nhắc chuyện Tết ngày trước. Các cổng phố, nay không còn, từng đóng mở theo giờ để giữ an ninh cho dãy tiệm buôn; người già trong phố còn kể lại chuyện cổng phố Hàng Ngang.

Dấu tích dễ thấy nhất là hội quán Quảng Đông trên phố Hàng Buồm, nơi xưa kia người Quảng Đông ở Hà Nội họp và thờ tự. Kiến trúc hội quán có mái cong, cửa vòm, trang trí kiểu Hoa Nam, khác hẳn đình chùa Việt bên cạnh. Ngôi hội quán từng nhiều lần đổi chức năng và nay là nơi sinh hoạt văn hoá của phố cổ.

Ngay trên phố Hàng Buồm còn có đền Bạch Mã, ngôi đền Việt cổ trấn phía đông Thăng Long. Thời phố đông người Hoa, các thương nhân cũng góp tiền tu sửa đền. Chuyện hai không gian thờ tự của hai cộng đồng nằm cạnh nhau trên một con phố là ví dụ đẹp về sự chung sống ở khu phố buôn.

Nghề và hiệu buôn người Hoa ở Hà Nội đầu thế kỷ 20

Đầu thế kỷ 20, người Hoa ở Hà Nội tổ chức theo bang giống Nam Kỳ, với bang Quảng Đông và bang Phúc Kiến đông hơn cả. Mỗi bang có người đại diện làm việc với chính quyền thời đó, lo việc đăng ký người mới đến, giải quyết tranh chấp nội bộ và quản lý hội quán.

Nghề của họ tập trung vào buôn bán và dịch vụ trong phố: đồ khô, hải sản khô, thuốc bắc, vải vóc, chè, bánh kẹo, đồ sứ, tiệm ăn, tiệm giặt, tiệm may. Nhiều hiệu buôn lớn có chi nhánh ở Hải Phòng và quan hệ hàng hoá với Quảng Châu, Hồng Kông, nhập hàng qua cảng rồi bán buôn cho các tỉnh.

Thương nhân người Việt ở phố cổ cũng buôn bán sầm uất, cạnh tranh và hợp tác với người Hoa trên cùng những dãy phố. Nhiều gia đình Việt và Hoa làm ăn với nhau qua mấy đời, làm mối cho con cái lấy nhau. Vì thế, ở phố cổ Hà Nội có không ít gia đình Việt có một nhánh tổ tiên người Hoa, và ngược lại.

Các trường học của cộng đồng, nơi dạy chữ Hán và sau này dạy tiếng Phổ thông, đặt gần hội quán. Ngày lễ lớn như Nguyên Tiêu, Trung Thu, phố người Hoa treo đèn, có múa lân; nhiều người Hà Nội lớn tuổi còn nhớ Trung Thu phố Hàng Buồm, Hàng Đường rực đèn lồng, bánh nướng bánh dẻo kiểu Quảng bày kín cửa hiệu.

Đọc dấu vết người Hoa trên phố cổ Hà Nội

Nhà ống mặt tiền hẹp. Nhà ống phố cổ có kết cấu gần với nhà phố của người Hoa vùng Quảng Đông: mặt tiền buôn bán, sâu vào trong là sân trong và chỗ ở. Không phải nhà ống nào cũng do người Hoa xây, nhưng lối nhà này phát triển mạnh ở những phố đông thương nhân.

Cửa gỗ ván lùa. Nhiều nhà còn giữ cửa ván ghép từng tấm, buổi sáng tháo ra để mở cửa hàng, tối lắp vào. Đây là kiểu cửa quen thuộc ở các phố buôn người Hoa khắp Đông Nam Á.

Hoành phi, câu đối trong nhà. Một số gia đình gốc Hoa vẫn giữ hoành phi chữ Hán ghi tên hiệu buôn hoặc câu răn dạy. Đây là manh mối quan trọng về quê gốc và nghề của tổ tiên.

Món ăn trên phố. Mì vằn thắn, xá xíu, lạp xưởng, bánh bao, bánh nướng bánh dẻo kiểu Quảng là những món có gốc từ bếp người Hoa, đã thành món của người Hà Nội. Nhiều hàng ăn lâu năm trong phố cổ có nguồn gốc từ các gia đình gốc Hoa.

Tên hiệu buôn cũ. Một số cửa hiệu thuốc bắc, đồ khô ở Lãn Ông, Hàng Buồm vẫn giữ tên hiệu ba chữ kiểu xưa. Người tìm hiểu có thể hỏi chủ tiệm lịch sử hiệu buôn, nhiều nhà vui lòng kể nếu được hỏi lịch sự.

Hải Phòng: thành phố cảng và khu phố Khách

Từ cuối thế kỷ 19, khi Hải Phòng trở thành cảng chính của miền Bắc, người Hoa từ Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam đến buôn bán, mở xưởng, làm nghề vận tải biển. Một khu phố gần cảng được dân quen gọi là phố Khách, với dãy nhà phố hai ba tầng, các hiệu buôn gạo, than, đồ khô và hội quán.

Người Hoa Hải Phòng làm nhiều nghề gắn với cảng: đại lý tàu, buôn than, buôn gạo, sửa chữa tàu thuyền, làm bánh kẹo, mở tiệm ăn. Hải Phòng thời ấy có các trường học, hội quán và nghĩa trang riêng của cộng đồng, giống kiểu tổ chức ở Chợ Lớn nhưng quy mô nhỏ hơn.

Ngày nay dấu vết người Hoa ở Hải Phòng mờ hơn ở Hà Nội. Một số nhà phố cũ còn đứng, vài ngôi miếu được người dân giữ lễ, và các món ăn như bánh bao, lạp xưởng, mì vằn thắn vẫn có trong bếp thành phố. Muốn tìm hiểu sâu, nên bắt đầu từ bảo tàng thành phố và các cuốn địa chí Hải Phòng.

Quảng Ninh và vùng ven biển Đông Bắc

Quảng Ninh, nhất là Móng Cái và các đảo ven bờ, có người Hoa sinh sống từ lâu, làm nghề biển, buôn bán, làm ruộng. Vùng này còn có người Ngái và người Sán Dìu, hai nhóm có ngôn ngữ thuộc nhóm tiếng Hán, nhưng trong danh mục 54 dân tộc của Việt Nam, Sán Dìu là một dân tộc riêng, còn Ngái tuỳ thời kỳ được xếp riêng hoặc gộp.

Chuyện xếp nhóm này cho thấy ranh giới "người Hoa" trên giấy tờ không trùng với ranh giới ngôn ngữ. Một gia đình Sán Dìu ở Quảng Ninh nói một thứ tiếng gần tiếng Quảng Đông nhưng không ghi dân tộc Hoa, có lễ hội và trang phục riêng, và tự nhận là Sán Dìu chứ không phải người Hoa.

Người Hoa ở Quảng Ninh xưa tập trung ở các thị trấn ven biển và trên các đảo, làm nghề đánh cá, làm muối, buôn hàng biển, mở tiệm ở chợ. Một số làng ven biển còn giữ miếu thờ Thiên Hậu và các vị thần biển, với lễ cầu ngư hằng năm mà cả người Việt cùng tham gia.

Ngày nay vùng Đông Bắc là nơi giao thương sôi động, có nhiều người học và dùng tiếng Phổ thông cho công việc. Lớp người Hoa sinh sống lâu đời ở đây không đông, đời sống đã hoà nhiều vào cộng đồng địa phương; dấu vết còn ở các miếu, các dòng họ và nếp ăn uống.

Nếu nhà mình có gốc Hoa ở miền Bắc

Nhiều gia đình ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Hưng Yên có tổ tiên người Hoa nhưng đã ghi dân tộc Kinh từ nhiều đời. Dấu hiệu thường gặp là họ ít phổ biến ở miền Bắc, bài vị hay gia phả chữ Hán ghi quê một huyện bên Quảng Đông hay Phúc Kiến, hoặc truyền miệng rằng "cụ tổ là người Khách".

Một manh mối khác là cách gọi trong nhà. Gia đình còn gọi ông bà là "a công, a mà" hay dùng vài chữ tiếng Quảng khi nói chuyện riêng thường giữ được một phần gốc gác; món ăn ngày giỗ, cách gói bánh ngày Tết cũng nói lên quê gốc của tổ tiên.

Cách tìm hiểu bắt đầu từ trong nhà: hỏi người lớn tuổi, chụp lại bài vị, bia mộ, gia phả. Sau đó tìm đến đền miếu, hội quán cũ ở nơi tổ tiên sống, đọc bia công đức để xem có tên người cùng họ không. Các thư viện lớn ở Hà Nội lưu nhiều tư liệu chữ Hán, nhưng cần người đọc được chữ Hán hỗ trợ.

Ví dụ giả định: một gia đình họ Quách ở Hà Nội chỉ biết cụ tổ "làm thuốc bắc phố Lãn Ông". Người con cháu chụp được bài vị, nhờ người đọc chữ Hán thì biết quê cụ ở một huyện thuộc Quảng Đông, rồi tìm thêm qua hội đồng hương của người cùng quê ở nước ngoài. Không phải gia đình nào cũng đi xa được như vậy, nhưng bài vị và gia phả luôn là điểm bắt đầu.

Câu hỏi thường gặp

Hà Nội còn hội quán người Hoa nào?

Hội quán Quảng Đông trên phố Hàng Buồm là dấu tích rõ nhất và dễ ghé thăm nhất. Ngoài ra một số đình, miếu trong phố cổ có liên quan tới cộng đồng người Hoa thời trước, nhưng chức năng đã thay đổi nhiều. Nên hỏi ban quản lý phố cổ để biết nơi nào đang mở cửa.

Vì sao gọi người Hoa là "người Khách"?

Chữ "Khách" là cách gọi xưa của người Việt dành cho người Hoa đến buôn bán, như trong "phố Khách", "chú Khách". Cách gọi này có từ nhiều thế kỷ trước, nay ít dùng trong văn viết; nên dùng "người Hoa" để tránh hiểu nhầm sắc thái.

Phố Hiến hiện nay thuộc đâu và có gì để xem?

Phố Hiến thuộc tỉnh Hưng Yên. Khu di tích có đền Thiên Hậu của người Hoa, đền Mẫu, chùa Hiến, Văn miếu Xích Đằng và nhiều di tích khác. Đi trong một ngày từ Hà Nội là vừa, nên kết hợp đọc trước về thương mại Đàng Ngoài thế kỷ 17.

Người Sán Dìu có phải người Hoa không?

Trong danh mục 54 dân tộc của Việt Nam, Sán Dìu là một dân tộc riêng, dù tiếng nói thuộc nhóm tiếng Hán và có nguồn gốc xa từ vùng Hoa Nam. Người Sán Dìu có phong tục, trang phục, lễ hội riêng và tự nhận là Sán Dìu.

Có món ăn nào ở Hà Nội có gốc người Hoa?

Mì vằn thắn, xá xíu, lạp xưởng, bánh bao, bánh nướng bánh dẻo kiểu Quảng, nhiều loại ô mai, mứt đều có gốc gác từ bếp người Hoa hoặc chịu ảnh hưởng rõ. Qua nhiều đời, những món này đã thay đổi theo khẩu vị người Hà Nội.

Tìm gia phả gốc Hoa ở miền Bắc thì cần chuẩn bị gì?

Cần ảnh chụp rõ bài vị, bia mộ, gia phả và mọi giấy tờ cũ có chữ Hán; tên ông bà theo chữ Hán nếu có; nơi tổ tiên từng sống và nghề họ làm. Sau đó nhờ người đọc chữ Hán dịch phần quê quán, đời thứ, rồi đối chiếu với bia công đức ở đền miếu nơi gia đình từng sống.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.