HoaKieu.comHoa Kiều
Tiếng nói và chữ viết

Tiếng Hẹ (Khách Gia) và tiếng Hải Nam: hai phương ngữ nhỏ của người Hoa đang mỏng dần

Tiếng Hẹ và tiếng Hải Nam là hai phương ngữ ít người nói nhất trong năm bang người Hoa ở Việt Nam. Nguồn gốc, đặc điểm, nơi còn nghe thấy và cách giữ lại trong gia đình.

An elderly woman shelling peanuts on a wooden porch while a teenage girl records her voice with a phone, both seen from behind

Tiếng Hẹ (客家話, tiếng Khách Gia, Hakka) là tiếng của người Khách Gia gốc vùng đồi núi giáp ba tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến, Giang Tây; tiếng Hải Nam là một nhánh Mân nói trên đảo Hải Nam. Trong năm bang người Hoa ở Việt Nam, đây là hai nhóm ít người nhất, sống xen với nhóm khác, nên tiếng nói trong gia đình mỏng đi nhanh hơn tiếng Quảng hay tiếng Triều Châu.

Hai thứ tiếng không cùng nhánh và rất khác nhau, nhưng chung một hoàn cảnh: ở Việt Nam ít trường dạy, ít phim ảnh, phần lớn chỉ còn trong miệng ông bà. Bài này giới thiệu từng thứ tiếng, nơi cộng đồng nói đông trên thế giới, và những việc gia đình có thể làm để tiếng của ông bà không mất hẳn.

Người Khách Gia là ai và cái tên "khách" từ đâu ra

Chữ 客家 đọc Hán Việt là "khách gia", nghĩa đen là "nhà khách", "người từ nơi khác đến". Theo cách giải thích phổ biến, tổ tiên người Khách Gia từ vùng đồng bằng phía bắc chuyển dần xuống phía nam qua nhiều đợt kéo dài hàng thế kỷ, đến định cư ở vùng đồi núi khi đồng bằng đã có cư dân ở trước, nên bị gọi là "khách" và về sau tự nhận cái tên ấy.

Vùng lõi của người Khách Gia là Mai Châu (梅州, nay gồm cả Mai Huyện cũ) ở đông bắc Quảng Đông, cùng các vùng núi tây nam Phúc Kiến và nam Giang Tây. Tiếng Mai Huyện thường được dùng làm giọng chuẩn khi nghiên cứu tiếng Khách Gia. Ở tây nam Phúc Kiến, các nhà đất tròn, đất vuông nhiều tầng (thổ lâu) gắn với người Khách Gia và người Mân Nam được UNESCO ghi danh di sản thế giới năm 2008 với tên "Phúc Kiến thổ lâu".

Người Việt gọi nhóm này là người Hẹ, có tài liệu cho rằng chữ "Hẹ" là cách đọc biến âm của chữ 客 theo một phương ngữ. Người Khách Gia đi xa rất sớm và rất rộng: Đài Loan (vùng Đào Viên, Tân Trúc, Miêu Lật), Hồng Kông (vùng Tân Giới), Sabah ở Malaysia, Tây Kalimantan ở Indonesia, cho tới Mauritius trên Ấn Độ Dương và Tahiti ở Thái Bình Dương.

Ở Kuala Lumpur, tên Diệp Á Lai (Yap Ah Loy), một người Khách Gia làm Kapitan Cina thế kỷ 19, gắn với giai đoạn khai mỏ thiếc và dựng phố; ngôi miếu Tiên Tứ Sư Gia ông lập vẫn còn ở trung tâm thành phố. Văn hoá Khách Gia để lại nhiều dấu vết dễ nhận ra: lối hát sơn ca (山歌) đối đáp trên đồi, món trà giã (擂茶 lôi trà) với lá trà, mè, đậu giã nhuyễn rồi chế nước sôi, và các món muối chua, phơi khô hợp với đời sống miền núi. Những thứ này đi theo người Khách Gia sang Đài Loan, Malaysia và còn được giới trẻ ở đó làm sống lại như một phần bản sắc. Tên "Sùng Chính" (崇正) hay gặp ở các hội người Khách Gia từ Hồng Kông, Malaysia đến Việt Nam, là một dấu hiệu dễ nhận ra khi tìm hội đồng hương Hẹ.

Tiếng Hẹ nghe thế nào

Giữ đủ âm cuối. Giống tiếng Quảng và âm Hán Việt, tiếng Hẹ còn -m, -n, -ng và -p, -t, -k. Chữ 十 đọc gần "sṳ̍p", chữ 學 đọc "hok". Người biết Hán Việt nghe tiếng Hẹ thấy nhiều chữ quen.

Âm v ở đầu. Nhiều chữ mà tiếng Phổ thông đọc bằng w hoặc h thì tiếng Hẹ đọc bằng v: họ 黃 (Hoàng) đọc "Vòng", chữ 文 (văn) đọc "vùn". Cách viết họ Wong của nhiều người Khách Gia ở nước ngoài là theo âm này.

Ngôi xưng riêng. Ngôi thứ nhất 我 đọc "ngâi", ngôi thứ hai 你 đọc "ngì" hoặc "n̂", ngôi thứ ba đọc "kì". Có ý kiến cho rằng tên gọi người Ngái ở Việt Nam liên quan đến chữ "ngâi" này, nhưng đây là một giả thuyết, chưa phải kết luận chung.

Sáu thanh, ít biến thanh. Giọng Mai Huyện thường được mô tả có sáu thanh. So với tiếng Mân Nam, tiếng Hẹ ít biến thanh khi ghép chữ hơn, nên người học thấy dễ theo hơn.

Gần tiếng Cám. Về họ hàng ngôn ngữ, tiếng Khách Gia gần tiếng Cám ở Giang Tây hơn là gần tiếng Quảng hay tiếng Mân, dù người Khách Gia sống xen với người Quảng và người Mân rất lâu và mượn của họ nhiều từ.

Người Hẹ và người Ngái ở Việt Nam

Ở Việt Nam, người Hẹ là một trong năm bang người Hoa thời Nam Kỳ xưa, sống nhiều ở TP.HCM, Đồng Nai và rải rác Đông Nam Bộ, một số ở miền Tây. Họ thường tụ thành cụm gia đình, làm nông, làm vườn, làm các nghề thủ công và buôn bán nhỏ. Trong ẩm thực, món đậu hũ dồn thịt và thịt kho cải chua (梅菜扣肉) mà nhiều nhà người Hoa nấu dịp giỗ Tết có gốc Khách Gia.

Người Ngái là một dân tộc riêng trong danh mục 54 dân tộc Việt Nam, tiếng nói thuộc nhóm Hán, gần với tiếng Khách Gia, dân số nhỏ, có mặt cả ở miền Bắc lẫn miền Nam. Ranh giới giữa "người Hoa gốc Hẹ" và "người Ngái" trên giấy tờ phụ thuộc vào lịch sử khai báo của từng gia đình, không phải ai nói tiếng gần Khách Gia cũng được ghi là dân tộc Ngái.

Với con cháu đang tìm gốc, điều này có nghĩa là thông tin "nhà nói tiếng Hẹ" cần đi kèm quê quán trên gia phả. Gia phả ghi các huyện Mai Huyện, Hưng Ninh, Ngũ Hoa, Đại Bộ, Huệ Dương… là những vùng Khách Gia quen thuộc. Gia đình ghi dân tộc nào trên giấy khai sinh, căn cước là theo giấy tờ gốc; muốn điều chỉnh thì làm việc với UBND cấp xã nơi đăng ký hộ tịch, không tự suy từ tiếng nói.

Tiếng Hẹ ở Việt Nam ngày nay chủ yếu còn ở người từ năm mươi tuổi trở lên. Nhiều gia đình trẻ chỉ giữ vài câu gọi trong nhà, vài bài hát ru, vài câu chúc Tết.

Tiếng Hải Nam: nhánh Mân trên hòn đảo phía nam

Tiếng Hải Nam (海南話) thuộc nhóm Mân, được xếp riêng thành nhánh Quỳnh Văn, theo tên hai vùng Quỳnh Sơn và Văn Xương. Giọng Văn Xương thường được coi là giọng chuẩn. Chữ Quỳnh (瓊) là tên xưa của đảo Hải Nam, nên các hội người Hải Nam ở nước ngoài hay mang tên Quỳnh Châu hội quán hoặc Quỳnh Phủ hội quán.

Dù cùng nhóm Mân, tiếng Hải Nam đã đi xa khỏi tiếng Phúc Kiến và Triều Châu sau nhiều thế kỷ phát triển trên đảo, cạnh các cư dân bản địa. Người nói Phúc Kiến nghe tiếng Hải Nam chỉ bắt được ít từ.

Một điểm làm người Việt thú vị: tiếng Hải Nam có các phụ âm đầu được phát âm bằng cách hút hơi vào, giống "b" và "đ" của tiếng Việt, điều hiếm gặp ở các phương ngữ Hán khác. Người Hải Nam học tiếng Việt vì vậy thường phát âm b, đ khá tự nhiên, còn người Quảng Đông hay Phổ thông dễ đọc thành p, t.

Tiếng Hải Nam còn giữ ít tài liệu học hơn cả tiếng Hẹ. Phần lớn người muốn học phải dựa vào người trong nhà, hội đồng hương, các video của người Hải Nam ở Singapore, Malaysia, Thái Lan và các nhóm nghiên cứu phương ngữ.

Người Hải Nam đi xa: từ bếp tàu tới quán cà phê

Người Hải Nam đến Đông Nam Á muộn hơn người Phúc Kiến, Quảng Đông, nhiều người làm đầu bếp trên tàu, đầu bếp trong nhà các gia đình châu Âu thời thuộc địa, rồi mở tiệm ăn và quán cà phê. Ở Singapore và Malaysia, kiểu quán cà phê bình dân kopitiam, với cà phê rang bơ đường và bánh mì nướng kaya, gắn nhiều với người Hải Nam.

Món cơm gà Hải Nam nổi tiếng ở Singapore lấy gốc từ món gà Văn Xương trên đảo, nhưng hình thức cơm nấu bằng nước luộc gà, chấm tương gừng ớt như ngày nay thành hình ở Đông Nam Á. Ở Thái Lan, món tương tự gọi là khao man kai.

Ở Việt Nam, người Hải Nam có mặt ở Hội An (nay thuộc Đà Nẵng) với hội quán Hải Nam trên phố cổ, và rải rác ở Nam Bộ. Nhiều gia đình làm nghề ăn uống, tạp hoá, đi biển. Do ít người, tiếng Hải Nam trong các gia đình ở Việt Nam thường chỉ còn ở thế hệ ông bà; con cháu nói tiếng Việt, một phần nói tiếng Quảng hoặc tiếng Phổ thông.

Ở Thái Lan, người Hải Nam là một trong mấy nhóm người Hoa lớn, cùng với Triều Châu, Khách Gia, Quảng Đông, sống nhiều ở Bangkok và các tỉnh phía nam. Ở Malaysia, họ tụ ở các thành phố ven biển. Ở mọi nơi, tiếng Hải Nam đều là tiếng của một cộng đồng nhỏ giữa những nhóm đông hơn, nên con cháu thường nói thêm tiếng Quảng, tiếng Phúc Kiến hoặc tiếng Phổ thông trước khi nói được tiếng quê.

Khi tìm họ hàng ở nước ngoài, các hội Quỳnh Châu ở Singapore, Penang, Bangkok là đầu mối đáng hỏi, vì nhiều hội còn giữ danh sách hội viên, sổ ghi quê quán từ nhiều thập niên trước.

Giữ một phương ngữ nhỏ trong gia đình: làm gì khi người nói chỉ còn ông bà

Với tiếng Hẹ và tiếng Hải Nam, việc giữ tiếng phần lớn không còn là chuyện dạy con nói thạo, mà là lưu lại càng nhiều càng tốt trước khi người nói cuối cùng trong nhà không còn. Một kế hoạch đơn giản có thể đi theo thứ tự:

  1. Ghi âm ông bà kể chuyện đời mình bằng tiếng quê, mỗi lần mười lăm, hai mươi phút, không ép nói theo chủ đề. Ghi rõ ngày và tên người nói.
  2. Lập một danh sách từ trong nhà: cách gọi từng người họ hàng, tên các món ăn ngày giỗ Tết, câu chúc, câu ru con. Nhờ ông bà đọc từng từ để ghi âm riêng.
  3. Ghi lại tên quê bằng chữ Hán và cách ông bà đọc tên quê bằng tiếng Hẹ hoặc Hải Nam, vì cách đọc này giúp hỏi đường khi về thăm quê gốc.
  4. Dạy cháu nhỏ những câu ngắn dùng được ngay: chào ông bà, mời ăn cơm, cảm ơn, chúc Tết. Vài câu dùng thật hằng ngày giữ tiếng tốt hơn trăm câu học thuộc.
  5. Liên hệ hội đồng hương, hội họ hoặc câu lạc bộ người Hẹ, người Hải Nam ở địa phương để con cháu có chỗ nghe người khác nói cùng thứ tiếng.
  6. Sao lưu bản ghi ở ít nhất hai nơi và chia cho họ hàng ở nước ngoài một bản.

Không cần chờ có thiết bị tốt. Một chiếc điện thoại đặt gần, phòng yên tĩnh là đủ. Thứ khó tìm lại nhất không phải chất lượng âm thanh mà là giọng của người đã khuất.

Câu hỏi thường gặp

Người Hẹ và người Quảng Đông có hiểu tiếng nhau không?

Hiểu được rất ít nếu chưa từng sống gần nhau. Tiếng Hẹ và tiếng Quảng thuộc hai nhóm khác nhau, khác ở thanh điệu và nhiều từ thường ngày. Tuy vậy người Hẹ sống lâu ở vùng nói tiếng Quảng như Hồng Kông, Chợ Lớn thường nói thêm được tiếng Quảng, nên giao tiếp trong thực tế ít trở ngại.

Tiếng Hẹ ở Đài Loan có giống tiếng Hẹ ở Việt Nam không?

Cùng là tiếng Khách Gia nên nói chuyện được, nhưng mỗi nơi có giọng riêng tuỳ quê gốc. Đài Loan có nhiều giọng Khách Gia, phổ biến là giọng Tứ Huyện gần Mai Huyện và giọng Hải Lục. Người Hẹ ở Việt Nam có thể gốc từ nhiều huyện khác nhau, nên cần nghe thử mới biết gần giọng nào.

Hội quán Hải Nam ở Hội An thờ ai?

Hội quán Hải Nam ở Hội An là nơi sinh hoạt cộng đồng và thờ tự của người Hải Nam, được giới thiệu như một di tích trong khu phố cổ. Nội dung thờ tự, câu đối, hoành phi ở đây là tư liệu văn hoá và lịch sử của cộng đồng; khách tham quan nên xem bảng giới thiệu tại chỗ và hỏi người trông coi để biết đúng.

Có lớp dạy tiếng Hẹ hay tiếng Hải Nam ở Việt Nam không?

Rất ít và không thường xuyên. Một số hội đồng hương, câu lạc bộ người cao tuổi đôi khi mở buổi sinh hoạt, hát dân ca bằng tiếng quê. Cách thực tế hơn là học với người trong nhà, nghe thêm video của cộng đồng ở Đài Loan, Malaysia, Singapore và ghi chép lại theo một hệ phiên âm thống nhất.

Họ Wong của người Hẹ có giống họ Wong của người Quảng không?

Cùng là cách viết Latinh của họ 黃 (Hoàng) theo âm phương ngữ, nhưng không phải ai họ Wong cũng gốc Quảng hay gốc Hẹ. Tiếng Quảng đọc "Wong", tiếng Hẹ đọc "Vòng", nhiều người Hẹ ở nước ngoài vẫn viết Wong theo thói quen giấy tờ. Muốn biết gốc phải dựa vào quê quán trên gia phả.

Ghi âm ông bà nên lưu theo định dạng nào cho bền?

Nên giữ bản gốc ở định dạng phổ biến mà điện thoại ghi ra, kèm một bản chép sang định dạng âm thanh thông dụng khác để dự phòng. Tên tệp nên ghi ngày, tên người nói và chủ đề. Lưu ở hai nơi khác nhau, ví dụ một ổ cứng trong nhà và một dịch vụ lưu trữ trực tuyến, và kiểm tra lại mỗi năm.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.