HoaKieu.comHoa Kiều
Hội quán, bang và hội đồng hương

Trường học, bệnh viện, nghĩa trang do hội quán người Hoa lập: phúc lợi tự lo

Từ lớp học trong gian hội quán đến trường lớn, phòng thuốc từ thiện, nghĩa trang có sổ người mất: cộng đồng người Hoa tự lo phúc lợi thế nào và dấu vết còn lại.

Old weathered horseshoe tombs on a grassy hillside under tropical trees, a lone figure with an umbrella walking between graves, seen from far away

Trước khi nhà nước ở các nước sở tại lo trường công, bệnh viện công và nghĩa trang công cho mọi người, nhiều cộng đồng người Hoa xa quê đã tự lập trường dạy con em, phòng thuốc và bệnh viện từ thiện, nghĩa trang có sổ ghi người mất, bằng tiền quyên góp qua hội quán, hội họ và thương hội. Nhiều công trình ấy còn tồn tại đến hôm nay, có nơi đã thành trường, bệnh viện lớn phục vụ mọi người, có nơi chỉ còn tấm bia ghi tên người góp tiền.

Bài này đi qua ba loại công trình phúc lợi chính, với ví dụ ở Việt Nam, Singapore, Malaysia và Mỹ: chúng ra đời thế nào, ai trả tiền, ngày nay ra sao. Phần cuối hướng dẫn cách lần theo các công trình này khi tìm dấu vết người thân đã học, đã chữa bệnh hay đã được chôn cất ở đó.

Vì sao cộng đồng phải tự lo phúc lợi

Thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, chính quyền ở các thuộc địa Đông Nam Á chỉ đầu tư hạn chế cho trường học và y tế của dân thường, và càng ít cho các cộng đồng di cư. Trường công dạy bằng tiếng của chính quyền thuộc địa, ít chỗ và xa với nhu cầu của các gia đình muốn con biết chữ Hán để giữ sổ sách buôn bán, đọc thư nhà.

Người lao động di cư thì thường nghèo, sống chen chúc, dễ mắc bệnh. Một phu mỏ, một thợ khuân vác ngã bệnh không có người thân bên cạnh, không đủ tiền thầy thuốc, nếu không có ai lo thì chết bên đường. Với quan niệm coi trọng việc được chôn cất tử tế, nỗi lo "chết không ai chôn" là nỗi lo rất lớn của người xa quê.

Trong khoảng trống ấy, hội quán, hội họ và thương hội đứng ra. Họ có sẵn ba thứ: một tổ chức có uy tín, một mạng lưới hội viên có thể quyên góp, và những thương nhân giàu sẵn lòng bỏ tiền để đổi lấy danh tiếng và vị trí trong cộng đồng. Tên người góp tiền được khắc lên bia, treo trong hội quán, nhắc lại mỗi dịp lễ; đó là phần thưởng xã hội cho việc làm phúc.

Kết quả là ở nhiều thành phố có người Hoa, một hệ thống phúc lợi song song hình thành: trường của từng bang, phòng thuốc từ thiện, bệnh viện, nghĩa trang, quỹ cứu tế. Hệ thống ấy không hoàn hảo, thường chia theo bang, nhưng đã giữ được rất nhiều người qua những năm khó khăn.

Trường học: từ lớp học trong gian hội quán đến trường lớn

Trường người Hoa ở Đông Nam Á thường bắt đầu rất nhỏ: một thầy đồ dạy vài chục học trò trong gian phụ của hội quán, học Tam Tự Kinh, Thiên Tự Văn, viết chữ và tính bàn tính. Học trò đọc theo phương ngữ của bang. Đầu thế kỷ 20, nhiều nơi chuyển sang trường kiểu mới, có lớp, có môn khoa học, toán, và dần dùng tiếng Phổ thông làm ngôn ngữ giảng dạy.

Singapore có ví dụ rõ. Hội quán Phúc Kiến của đảo lập trường Đạo Nam (Tao Nan) năm 1906, sau đó lập thêm các trường Ái Đồng (Ai Tong) năm 1912, Sùng Phúc (Chongfu) năm 1915 dành cho nữ sinh, và Nam Kiều (Nan Chiau) năm 1947. Năm 1955, trường Đại học Nam Dương ra đời trên khu đất do hội quán này hiến, với tiền quyên góp từ đông đảo người Hoa ở Singapore và Malaya, kể cả những người lao động bình thường.

Ở Việt Nam, Chợ Lớn từng có nhiều trường do các bang lập, mỗi bang một trường, về sau nhiều trường hợp nhất và trở thành trường công lập. Các tỉnh có đông người Hoa như vùng Sóc Trăng, Bạc Liêu, Hà Tiên, Phan Thiết đều có trường Hoa văn của cộng đồng. Ngày nay một số trung tâm Hoa văn vẫn hoạt động, dạy tiếng Hoa ngoài giờ cho trẻ em người Hoa lẫn người Việt.

Điểm chung của các trường ấy là gắn chặt với hội quán: ban trị sự hội quán thường là ban quản trị trường, tiền thuê nhà của hội quán nuôi một phần lương thầy, ngày khai giảng làm lễ ở hội quán. Nhiều cựu học sinh lớn tuổi nhớ trường mình gắn với hình ảnh ngôi miếu và mùi nhang.

Phòng thuốc và bệnh viện từ thiện

Phòng thuốc bắc miễn phí. Hình thức sớm nhất là phòng khám thuốc bắc miễn phí, do thương nhân góp tiền thuê thầy thuốc và mua thuốc. Đồng Tế y viện (Thong Chai) ở Singapore, thường được ghi là lập năm 1867, là ví dụ nổi tiếng: khám và cho thuốc không phân biệt người bệnh thuộc bang nào, dân tộc nào.

Bệnh viện của từng bang. Khi cộng đồng giàu hơn, các bang lập bệnh viện có giường bệnh, có cả thầy thuốc theo y học phương Tây. Quảng Huệ Triệu (Kwong Wai Shiu) ở Singapore, lập khoảng năm 1910 bởi người gốc ba phủ Quảng Châu, Huệ Châu, Triệu Khánh, là một ví dụ; ở Chợ Lớn cũng có các bệnh viện mang tên bang trong nửa đầu thế kỷ 20.

Bệnh viện ở Bắc Mỹ. Ở San Francisco, Bệnh viện Trung Hoa ra đời năm 1925 nhờ các hội người Hoa trong khu phố góp sức, để người bệnh được chăm sóc bằng tiếng nói và theo nếp quen của mình. Bệnh viện này đến nay vẫn hoạt động.

Nhà dưỡng lão, nhà tế bần. Một số hội quán lập nơi ở cho người già cô đơn, người tàn tật không còn làm việc được. Đây thường là những người đã sang từ trẻ, làm cả đời mà không lập gia đình, không có ai để về.

Ngày nay ra sao. Nhiều bệnh viện của cộng đồng đã trở thành bệnh viện công hoặc bệnh viện tư phục vụ mọi người; một số phòng thuốc từ thiện vẫn duy trì, chủ yếu khám thuốc bắc và châm cứu cho người già, người nghèo.

Nghĩa trang: đất, sổ người mất và mùa Thanh Minh

Nghĩa trang là công trình phúc lợi gắn với hội quán lâu đời nhất, vì ngay từ khi có người mất nơi đất khách đã cần chỗ chôn. Hội quán mua hoặc được hiến đất, chia khu theo bang hoặc theo họ, giữ sổ ghi người mất, ngày mất, quê quán, vị trí mộ. Mùa Thanh Minh, hội quán tổ chức tảo mộ chung, kể cả cho những ngôi mộ không còn con cháu.

Ở Malacca, đồi Bukit Cina là một trong những nghĩa trang người Hoa lớn và lâu đời nhất bên ngoài Trung Hoa, có hàng nghìn ngôi mộ, trong đó có những mộ từ thế kỷ 17. Ở Singapore, nghĩa trang Bukit Brown mở năm 1922, có khoảng một trăm nghìn ngôi mộ, nhiều mộ của các nhân vật lập hội quán, trường học; nơi này là đề tài của nhiều nhóm tình nguyện viên nghiên cứu lịch sử mộ bia.

Ở các thành phố đang phát triển, nghĩa trang cũ trong nội đô thường phải di dời theo quy hoạch. TP.HCM và nhiều đô thị khác đã di dời phần lớn nghĩa trang cũ, trong đó có nghĩa trang của các bang người Hoa; hài cốt được chuyển về nghĩa trang mới hoặc được gia đình nhận về. Với gia đình không còn ai ở gần, việc biết mộ ông bà đã được chuyển về đâu thường phải hỏi qua hội quán, nơi còn giữ sổ hoặc biết đầu mối.

Nhiều khu mộ cũ của người Hoa có kiểu mộ hình móng ngựa (hình chữ Ω) đặc trưng, với bia đá khắc tên người mất, quê quán, tên con cháu đứng lập bia. Một tấm bia như vậy là tư liệu gia đình đầy đủ, nên chụp lại toàn bộ trước khi có bất cứ thay đổi nào.

Ba loại công trình: ai lập, giữ được gì cho con cháu

Bảng dưới tổng hợp ba loại công trình phúc lợi và loại tư liệu có thể còn lưu ở mỗi nơi, hữu ích cho người muốn tìm dấu vết gia đình.

Loại công trìnhThường do ai lậpTư liệu có thể cònHỏi ở đâu
Trường họcHội quán của bang, thương hội, hội họSổ học bạ, danh sách học sinh, ảnh lớp, kỷ yếuHội cựu học sinh, ban trị sự hội quán, trường kế thừa
Phòng thuốc, bệnh việnThương nhân góp tiền, hội quán các bangHồ sơ bệnh nhân rất hiếm khi còn và thường không công khaiHầu như chỉ dùng được bia công đức và lịch sử của bệnh viện
Nghĩa trangHội quán, hội họ, hội tang lễSổ người mất, sơ đồ khu mộ, bia mộ, hồ sơ di dờiHội quán của bang, ban quản lý nghĩa trang, chính quyền nơi di dời

Trong ba loại, nghĩa trang thường để lại nhiều tư liệu có ích nhất cho việc tìm gốc: bia mộ ghi quê quán, đời, tên con cháu. Trường học đứng thứ hai, nhất là ảnh lớp và kỷ yếu, vì có thể giúp nhận ra người trong gia đình.

Một lưu ý về quyền riêng tư: sổ sách của trường và nghĩa trang ghi thông tin của nhiều gia đình khác, không chỉ gia đình mình. Khi được cho xem, chỉ chụp phần liên quan đến người thân, không đăng nguyên trang lên mạng xã hội. Cách cư xử ấy giúp hội quán yên tâm mở sổ cho những người tìm sau.

Lần theo dấu người thân qua các công trình cộng đồng

Các bước dưới đây áp dụng cho gia đình biết ông bà từng học ở một trường Hoa, từng sống gần một hội quán, hoặc được chôn ở một nghĩa trang của bang mà nay không biết mộ ở đâu.

  1. Gom những gì gia đình còn giữ: ảnh cũ, giấy khen, giấy báo tử, bài vị, tên chữ Hán của người cần tìm, quê quán bên kia và bang của gia đình.
  2. Xác định hội quán của bang gia đình và liên hệ ban trị sự. Hỏi họ có còn giữ sổ hội viên, sổ người mất, hoặc biết đầu mối của trường, nghĩa trang cũ không.
  3. Với nghĩa trang đã di dời, hỏi ban quản lý nghĩa trang mới nơi hài cốt được chuyển về, và chính quyền địa phương nơi từng có nghĩa trang cũ về hồ sơ di dời.
  4. Với trường học, tìm hội cựu học sinh của trường, nhiều hội có nhóm liên lạc và giữ ảnh, kỷ yếu các khoá.
  5. Ghi lại mọi thứ tìm được: chụp bia, chép tên, ghi người đã giúp. Tư liệu ấy có ích cho chính gia đình và cho những người khác cùng tìm.

Không có gì bảo đảm tìm được, nhất là với nghĩa trang đã di dời từ lâu. Nhưng nhiều gia đình đã nối lại được dấu vết nhờ một cuốn sổ cũ trong hội quán hay một người cao tuổi còn nhớ chuyện.

Câu hỏi thường gặp

Trường Hoa văn ngày nay ở Việt Nam có nhận học sinh không phải người Hoa không?

Có. Phần lớn trung tâm Hoa văn hiện nay nhận mọi học sinh muốn học tiếng Hoa, nhiều nơi số học sinh người Việt đông hơn người Hoa. Lớp thường học ngoài giờ trường phổ thông, buổi tối hoặc cuối tuần, với chương trình tiếng Phổ thông và chữ phồn thể hoặc giản thể tuỳ nơi.

Có thể xem sổ người mất của hội quán không?

Tuỳ hội quán. Sổ thường được coi là tài sản nội bộ, ban trị sự cho xem khi người hỏi là thân nhân, nói rõ mục đích và có thông tin cụ thể. Nên hẹn trước, mang theo giấy tờ chứng minh quan hệ gia đình nếu có, và chuẩn bị tên chữ Hán của người cần tìm.

Nghĩa trang người Hoa có nhận chôn người không phải người Hoa không?

Các nghĩa trang cũ của bang thường dành cho người trong bang và gia đình, kể cả vợ chồng người Việt. Ngày nay phần lớn nghĩa trang cũ đã đóng hoặc di dời, việc an táng mới đi theo quy định chung về nghĩa trang của địa phương, không còn phân biệt theo cộng đồng.

Bệnh viện do người Hoa lập ngày nay có còn ưu tiên người Hoa không?

Không. Các bệnh viện từng do cộng đồng người Hoa lập ở Việt Nam đã trở thành bệnh viện công phục vụ mọi người. Ở Singapore, Malaysia, một số bệnh viện, phòng thuốc từ thiện vẫn do hội quán quản lý nhưng mở cho mọi người dân, không phân biệt nguồn gốc.

Bia mộ người Hoa thường ghi những gì?

Thường có tên người mất bằng chữ Hán, quê quán bên kia đến cấp làng hoặc huyện, năm mất theo niên hiệu hoặc âm lịch, và tên các con cháu đứng lập bia. Đây là nguồn rất quý để tìm quê gốc; nên chụp rõ toàn bộ mặt bia, kể cả các dòng chữ nhỏ hai bên.

Vì sao các bang không lập chung một bệnh viện, một trường?

Thời đầu, mỗi bang có phương ngữ, thầy thuốc, thầy giáo và nguồn quyên góp riêng, nên lập riêng dễ hơn. Về sau, khi tiếng Phổ thông phổ biến và các bang gần nhau hơn, nhiều trường và bệnh viện hợp nhất, và các tổ chức chung như thương hội góp phần lập công trình cho cả cộng đồng.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.