HoaKieu.comHoa Kiều
Người Hoa ở Việt Nam theo vùng

Hà Tiên và dòng họ Mạc: người Hoa mở đất ven vịnh Thái Lan và tao đàn Chiêu Anh Các

Mạc Cửu, người Lôi Châu (Quảng Đông), lập Hà Tiên cuối thế kỷ 17 rồi quy về chúa Nguyễn năm 1708. Con ông lập tao đàn Chiêu Anh Các. Hà Tiên hôm nay còn gì.

Low angle view of an old hillside tomb with curved stone wings among frangipani trees, a lone visitor climbing stone steps, late afternoon light

Hà Tiên (nay thuộc An Giang) là vùng đất do Mạc Cửu, một người Hoa quê Lôi Châu (Quảng Đông), khai mở cuối thế kỷ 17 thành thương cảng ven vịnh Thái Lan; năm 1708 ông đem đất này quy về chúa Nguyễn và được phong chức Tổng binh. Con ông là Mạc Thiên Tích (còn đọc là Mạc Thiên Tứ) mở rộng thương cảng và lập tao đàn Chiêu Anh Các năm 1736, quy tụ văn nhân người Hoa, người Việt cùng xướng hoạ thơ ca.

Câu chuyện họ Mạc là ví dụ hiếm có về một gia tộc người Hoa vừa lập đất, vừa làm quan, vừa để lại di sản văn chương bằng chữ Hán cho văn học Việt Nam. Bài dưới đi qua thời Mạc Cửu, thời Chiêu Anh Các, những di tích còn ở Hà Tiên và cộng đồng người Hoa ở vùng này hôm nay.

Mạc Cửu là ai và vì sao chọn Hà Tiên

Mạc Cửu (1655–1735) rời quê Lôi Châu ở bán đảo cực nam Quảng Đông vào khoảng cuối thế kỷ 17, theo đường biển xuống phía nam như nhiều thương nhân Hoa thời đó. Ông đến vùng bờ biển đông vịnh Thái Lan, khi ấy còn thưa người, mở tiệm buôn, chiêu tập dân các nơi đến làm ăn, lập nên một thị tứ mà sử Việt gọi là Mang Khảm, sau đổi gọi Hà Tiên.

Vị trí ấy có lợi thế rõ: một vịnh kín gió (đầm Đông Hồ), núi thấp che chắn, nằm trên đường thuyền buôn từ biển Đông sang Xiêm, Mã Lai. Thuyền Hoa, Xiêm, Mã Lai, châu Âu ghé lấy nước, buôn hàng, nên thị tứ lớn nhanh.

Thị tứ của Mạc Cửu không thuần người Hoa. Sử cũ và các nghiên cứu sau này ghi rằng dân đến làm ăn gồm người Hoa, người Việt, người Khmer, người Chăm, người Mã Lai; ông cho mở chợ, thu thuế thuyền buôn, đặt người coi các bến, chia đất cho người đến sau khai khẩn ruộng vườn quanh chân núi và ven đầm. Ngay từ đầu, Hà Tiên đã là một vùng đa tộc người với một gia tộc người Hoa đứng đầu.

Năm 1708, Mạc Cửu sai người sang Phú Xuân xin thần phục chúa Nguyễn Phúc Chu. Chúa phong ông làm Tổng binh trấn Hà Tiên, tước Cửu Ngọc hầu, để ông tiếp tục cai quản vùng đất. Từ đó Hà Tiên trở thành một trấn của Đàng Trong, với họ Mạc giữ quyền cai quản qua nhiều đời.

Mạc Thiên Tích và tao đàn Chiêu Anh Các

Mạc Cửu mất năm 1735, con là Mạc Thiên Tích kế nghiệp. Ông được nhớ đến nhiều nhất vì một việc ít ai chờ đợi ở một vùng biên viễn: năm 1736, ông lập Chiêu Anh Các, một tao đàn văn chương, mời văn nhân người Hoa từ Quảng Đông, Phúc Kiến và văn nhân người Việt ở Đàng Trong về xướng hoạ.

Tác phẩm nổi tiếng nhất gắn với Chiêu Anh Các là tập Hà Tiên thập vịnh, mười bài thơ của Mạc Thiên Tích tả mười cảnh đẹp của Hà Tiên, cùng nhiều bài hoạ của các văn nhân trong tao đàn. Mười cảnh ấy gồm Kim Dữ lan đào, Bình San điệp thuý, Tiêu Tự thần chung, Giang Thành dạ cổ, Thạch Động thôn vân, Châu Nham lạc lộ, Đông Hồ ấn nguyệt, Nam Phố trừng ba, Lộc Trĩ thôn cư và Lư Khê nhàn điếu.

Văn học sử Việt Nam xếp Chiêu Anh Các như một trung tâm văn hoá quan trọng của đất phương Nam thế kỷ 18, sớm hơn nhiều so với các nhóm văn ở Gia Định. Điều đặc biệt là ở đó, chữ Hán và tiếng Việt, người Hoa và người Việt gặp nhau trong cùng một sinh hoạt văn chương, không phải chỉ trong buôn bán.

Mười cảnh Hà Tiên trong thơ và nơi chốn hôm nay

Phần lớn mười cảnh trong Hà Tiên thập vịnh vẫn tìm được trên thực địa, dù cảnh quan đã đổi nhiều. Bảng dưới ghép tên cảnh với nơi chốn mà người địa phương thường chỉ.

Cảnh trong thơNghĩa gần đúngNơi thường được chỉ
Kim Dữ lan đàoĐảo Vàng chắn sóngHòn đảo nhỏ ở cửa biển Hà Tiên
Bình San điệp thuýNúi Bình San xanh lớp lớpNúi Lăng, nơi có lăng họ Mạc
Tiêu Tự thần chungTiếng chuông sớm chùa TiêuChùa Tam Bảo hoặc một chùa cổ trong thị xã
Giang Thành dạ cổTiếng trống đêm Giang ThànhVùng thành cũ Giang Thành
Thạch Động thôn vânĐộng đá nuốt mâyNúi Thạch Động
Châu Nham lạc lộCò đậu núi Châu NhamNúi Châu Nham
Đông Hồ ấn nguyệtTrăng in hồ ĐôngĐầm Đông Hồ
Nam Phố trừng baSóng lặng bãi NamBờ biển phía nam
Lộc Trĩ thôn cưXóm làng Lộc TrĩMột xóm ven biển, vị trí còn bàn
Lư Khê nhàn điếuCâu cá ở rạch LưMột nhánh rạch gần thị xã

Vị trí một số cảnh còn được các nhà nghiên cứu địa phương bàn lại, nhất là Tiêu Tự và Lư Khê. Người đi theo dấu thơ nên coi bảng là gợi ý, không phải bản đồ chính xác.

Hà Tiên trong mạng lưới buôn biển thế kỷ 18

Dưới thời Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích, Hà Tiên là một thương cảng mở. Thuyền buôn người Hoa từ Quảng Đông, Phúc Kiến chở vải, đồ sứ, thuốc bắc xuống; thuyền từ các cảng ven vịnh Thái Lan và bán đảo Mã Lai mang thiếc, hồ tiêu, gỗ, hàng rừng đến. Hà Tiên đứng giữa, như một trạm trung chuyển của vùng biển phía nam.

Hàng xuất đi từ chính vùng đất này gồm lúa gạo, cá khô, hải sâm, sáp ong, ngà, gạc và lâm sản từ vùng đồi phía sau. Người làm nghề ở đây đến từ nhiều cộng đồng: người Hoa giữ thuyền và tiệm, người Việt khai ruộng, người Khmer làm nghề trên các giồng đất, người Mã Lai, Chăm buôn biển.

Họ Mạc cai quản thương cảng theo lối của một phố cảng Hoa: lập phố chợ, đặt người coi bến, thu thuế thuyền, dựng chùa miếu, mở trường. Sử cũ ghi họ Mạc chú ý mời người có học về giúp việc, điều này giải thích vì sao một trấn biên giới nhỏ lại có thể nuôi được cả một tao đàn văn chương.

Đến cuối thế kỷ 18, trải qua nhiều biến động trong vùng, vai trò thương cảng của Hà Tiên giảm dần. Thế kỷ 19, trọng tâm buôn bán của miền Tây chuyển về Chợ Lớn, Mỹ Tho, Rạch Giá; Hà Tiên thành một thị xã ven biển yên ả, giữ lại di tích và thơ văn hơn là sức buôn bán.

Những di tích họ Mạc còn ở Hà Tiên

Trên núi Bình San, người địa phương quen gọi là núi Lăng, có lăng Mạc Cửu cùng nhiều ngôi mộ của thân tộc họ Mạc. Lăng xây theo lối mộ người Hoa với tường bao hình ghế bành, bia đá, hai bên có tượng. Đây là di tích quốc gia và là điểm đến chính của ai muốn hiểu lịch sử Hà Tiên.

Dưới chân núi là đền thờ họ Mạc, nơi thờ Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích và các thành viên gia tộc. Hằng năm, đền tổ chức lễ giỗ, có đông người dân Hà Tiên thuộc cả ba cộng đồng Kinh, Hoa, Khmer đến dự. Người dân xem họ Mạc như những vị tiền nhân của chính vùng đất mình, không riêng của người Hoa.

Gần đó còn chùa Phù Dung gắn với một câu chuyện dân gian về Mạc Thiên Tích, và chùa Tam Bảo được cho là do họ Mạc dựng. Nếu muốn đọc chữ Hán trên bia, nên đi cùng người hiểu chữ hoặc hỏi ban quản lý di tích, vì nhiều bia đã mòn. Đi lăng nên giữ yên lặng, không leo lên tường bao hay ngồi trên bia mộ, vì đây vẫn là nơi con cháu và người dân đến thắp hương.

Người Hoa ở Hà Tiên và vùng ven vịnh hôm nay

Hà Tiên hiện là nơi sống chung của người Kinh, người Hoa và người Khmer. Cộng đồng người Hoa ở đây không lớn, phần nhiều buôn bán, làm nghề biển, mở tiệm ở khu chợ và ven đầm Đông Hồ. Nhiều gia đình đã hoà vào người Việt qua nhiều đời, chỉ giữ họ và lễ ở các miếu.

Từ tháng 7/2025, Hà Tiên và Rạch Giá cùng thuộc tỉnh An Giang mới (tỉnh Kiên Giang cũ hợp vào An Giang). Rạch Giá có cộng đồng người Hoa đông hơn Hà Tiên, gồm nhiều nhóm, đông là người Triều Châu, với các hội quán, miếu Quan Đế, miếu Thiên Hậu. Hai nơi cách nhau không xa nên nhiều gia đình có họ hàng ở cả hai.

Lễ giỗ họ Mạc hằng năm ở đền thờ dưới chân núi Bình San là dịp hiếm hoi các cộng đồng cùng tụ về một chỗ. Ban quản lý di tích, các hội người Hoa trong vùng và dân địa phương cùng lo lễ; phần nghi thức giữ nếp cũ, phần hội có múa lân, văn nghệ. Người ở xa về dự thường đến từ Rạch Giá, Châu Đốc, Cần Thơ, cả TP.HCM.

Đời sống người Hoa ở vùng ven vịnh gắn với biển nhiều hơn ở miền Tây sông nước: buôn hải sản khô, nước mắm, làm chủ ghe, mở tiệm tạp hoá ở các đảo. Một số người Hoa ở Phú Quốc cũng có nguồn gốc từ các gia đình buôn biển trong vùng.

Vì sao họ Mạc đáng được người đọc hôm nay nhớ tới

Họ Mạc là một ví dụ rõ về con đường mà nhiều người Hoa đi qua ở Việt Nam: đến như thương nhân, lập phố buôn, rồi gắn bó với triều đình và vùng đất mới đến mức trở thành một phần lịch sử địa phương. Mạc Thiên Tích làm thơ bằng chữ Hán nhưng viết về cảnh Hà Tiên, về sóng đầm Đông Hồ, về tiếng trống Giang Thành, tức là viết về quê hương mới.

Với con cháu gốc Hoa ở miền Tây, câu chuyện này giúp trả lời một câu hay gặp: "người Hoa đến đây từ bao giờ?". Ở Hà Tiên, câu trả lời là từ trước cả khi vùng đất này có tên trong sổ sách của chúa Nguyễn.

Câu chuyện họ Mạc cũng nhắc người đọc cẩn trọng với những lối nói khái quát. Không có một kiểu người Hoa duy nhất đến Việt Nam: có người đến làm thuê, có người đến buôn bán, có gia tộc như họ Mạc đến lập đất và cai quản. Mỗi gia đình gốc Hoa mang một câu chuyện riêng, và câu chuyện ở Hà Tiên chỉ là một trong số đó.

Với người đi du lịch, hiểu họ Mạc biến một chuyến tắm biển, ăn hải sản ở Hà Tiên thành một chuyến đi có chiều sâu: ngồi bên đầm Đông Hồ buổi tối, đọc lại bài thơ trăng in hồ, thấy được nơi chốn mà ba trăm năm trước một nhóm văn nhân đã ngồi ngắm.

Câu hỏi thường gặp

Hà Tiên hiện nay thuộc tỉnh nào?

Từ tháng 7/2025, Hà Tiên thuộc tỉnh An Giang, vì tỉnh Kiên Giang cũ đã hợp nhất vào An Giang. Các di tích họ Mạc, đầm Đông Hồ, núi Thạch Động vẫn giữ tên cũ và vẫn là điểm tham quan chính.

Mạc Cửu là người Hoa hay người Việt?

Mạc Cửu là người Hoa, quê Lôi Châu thuộc Quảng Đông, sang phương Nam cuối thế kỷ 17. Sau khi quy về chúa Nguyễn năm 1708, ông và con cháu làm quan cho chúa Nguyễn, gắn bó với Hà Tiên qua nhiều đời và được thờ như tiền nhân của vùng đất.

Mạc Thiên Tích và Mạc Thiên Tứ có phải là một người?

Đúng, đó là cùng một người, con của Mạc Cửu. Chữ Hán trong tên ông có hai cách đọc nên sách vở Việt Nam ghi cả hai. Ông lập tao đàn Chiêu Anh Các năm 1736 và là tác giả Hà Tiên thập vịnh.

Chiêu Anh Các còn dấu tích không?

Công trình gốc không còn. Tao đàn được nhớ qua thơ văn để lại, nhất là Hà Tiên thập vịnh và các bài hoạ. Ở Hà Tiên có những nơi giới thiệu về Chiêu Anh Các và các hoạt động kỷ niệm, nhưng nên hiểu đó là nơi tưởng niệm chứ không phải tao đàn nguyên gốc.

Đi Hà Tiên nên dành bao lâu cho các di tích họ Mạc?

Khoảng nửa ngày là đủ đi lăng Mạc Cửu trên núi Bình San, đền thờ họ Mạc dưới chân núi và chùa Phù Dung gần đó. Nên đi buổi sáng sớm hoặc chiều muộn vì leo bậc đá ngoài trời khá nắng, mang nước và giày đi bộ.

Có thể đọc Hà Tiên thập vịnh ở đâu?

Tập thơ đã được dịch và giới thiệu trong nhiều sách về văn học Hà Tiên và văn học Nam Bộ thế kỷ 18. Thư viện tỉnh và các thư viện đại học có ngành văn học, Hán Nôm thường có những bản dịch kèm nguyên văn chữ Hán.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.