Muốn đọc gia phả người Hoa, người lớn tuổi không cần học hàng nghìn chữ như học sinh: gia phả dùng một vốn chữ khá hẹp lặp đi lặp lại gồm chữ số, can chi, quan hệ họ hàng, các chữ về sinh, mất, cưới, chôn cất, tên đất và tên người trong chính dòng họ. Học có chọn lọc những nhóm chữ ấy, cộng với cách tra từ điển theo bộ thủ, nhiều người đã tự đọc được phần lớn gia phả nhà mình sau vài tháng.
Bài này dành cho người trung niên, cao tuổi gốc Hoa ở Việt Nam và ở nước ngoài, nhiều người từng học Hoa văn hồi nhỏ rồi bỏ, muốn đọc lại tư liệu của ông bà. Nội dung gồm cấu trúc một quyển gia phả, các nhóm chữ cần học trước, cách tra, lộ trình gợi ý mười hai tuần, mẹo học cho người lớn tuổi và giới hạn cần biết.
Một quyển gia phả người Hoa thường có những phần nào
Gia phả (族譜, 家譜) của người Hoa có thể là một quyển sách in, một cuốn chép tay, một tấm giấy lớn vẽ cây phả hệ, hoặc chỉ vài trang ghi chép do ông bà để lại. Dạng đầy đủ thường có bài tựa (序) nói về nguồn gốc dòng họ, phần thế hệ (世系) liệt kê từng đời, phần tiểu sử ngắn của một số người, và phần ghi mộ phần.
Phần đáng đọc trước tiên với con cháu là thế hệ biểu: mỗi người một mục, ghi đời thứ mấy, tên, tên chữ, ngày sinh, ngày mất, tên vợ, con cái, nơi chôn. Phần này viết theo khuôn lặp lại, nên học được khuôn là đọc được hàng trăm mục.
Nhiều dòng họ có bài thơ chữ lót (字輩), mỗi đời dùng một chữ theo thứ tự trong bài thơ để đặt tên. Biết bài thơ chữ lót của họ mình thì nhìn tên một người là đoán được người đó thuộc đời nào, kể cả khi gặp người họ hàng xa ở nước khác.
Bài tựa thường viết bằng văn ngôn, dùng điển tích, là phần khó nhất. Người mới học nên để phần này lại sau, đọc thế hệ biểu trước, vì thông tin con cháu cần nhất nằm ở đó.
Các nhóm chữ nên học trước
Thay vì học theo giáo trình tiếng Phổ thông, người đọc gia phả nên học theo nhóm chữ của chính loại tư liệu này. Bảng dưới là các nhóm cốt lõi, mỗi nhóm kèm vài ví dụ.
| Nhóm | Ví dụ chữ (âm Hán Việt, nghĩa) | Dùng để đọc |
|---|---|---|
| Chữ số | 一 二 三 … 十, 百, 廿 (nhập, hai mươi), 卅 (tạp, ba mươi) | Đời thứ mấy, tuổi, ngày tháng |
| Can chi | 甲 乙 丙 丁… (thiên can), 子 丑 寅 卯… (địa chi) | Năm sinh, năm mất ghi theo can chi |
| Quan hệ | 祖 (tổ), 父 (phụ), 子 (tử), 孫 (tôn, cháu), 長 (trưởng), 次 (thứ), 配 (phối, vợ), 娶 (thú, lấy vợ) | Ai là con ai, vợ ai |
| Sinh, mất, chôn | 生 (sinh), 卒 (tốt, mất), 享壽 (hưởng thọ), 葬 (táng, chôn), 墓 (mộ) | Mốc đời người và nơi an táng |
| Tên gọi | 名 (danh), 字 (tự, tên chữ), 號 (hiệu), 諱 (huý, tên kiêng gọi) | Phân biệt các tên của cùng một người |
| Tôn xưng người đã mất | 考 (khảo, cha), 妣 (tỷ, mẹ), 公 (công, ông), 孺人 (nhụ nhân, bà) | Bài vị, bia mộ, phần thế hệ |
| Địa danh | 省 (tỉnh), 府 (phủ), 縣 (huyện), 鄉 (hương), 村 (thôn), 籍貫 (tịch quán, quê quán) | Tìm quê gốc |
Cộng các nhóm này với tên người, tên đất của chính dòng họ, vốn chữ cần học thường chỉ vài trăm chữ. Đây là ước lượng theo kinh nghiệm của những người đọc gia phả, không phải con số đo được, vì mỗi quyển dài ngắn khác nhau.
Chữ 廿 và 卅 rất hay gặp trong ngày tháng (廿五 là hai mươi lăm) nhưng ít được dạy trong giáo trình phổ thông, nên nhiều người đọc lần đầu bị vấp.
Tra từ điển theo bộ thủ: kỹ năng quan trọng nhất
Chữ Hán không có bảng chữ cái, nên tra từ điển theo bộ thủ và số nét. Hệ thống 214 bộ thủ phổ biến hiện nay theo Khang Hy tự điển (1716). Mỗi chữ được xếp vào một bộ, thường là phần chỉ nghĩa của chữ; số nét còn lại sau khi trừ bộ giúp tìm chữ trong bộ đó.
Người mới học nên thuộc khoảng năm mươi bộ hay gặp nhất trước: 人 (nhân), 女 (nữ), 子 (tử), 木 (mộc), 水 (thuỷ), 火 (hoả), 土 (thổ), 金 (kim), 心 (tâm), 言 (ngôn), 口 (khẩu), 手 (thủ), 日 (nhật), 月 (nguyệt), 艸 (thảo), 糸 (mịch)… Các bộ này còn có dạng biến thể khi đứng bên trái chữ, như 亻 của 人, 氵 của 水, 扌 của 手, 忄 của 心, cần nhận ra cả hai dạng.
Từ điển Hán Việt in như của Thiều Chửu hay Đào Duy Anh đều tra theo bộ thủ và cho âm Hán Việt kèm nghĩa, hợp với người đọc tư liệu cũ vì dùng chữ phồn thể. Từ điển trên điện thoại cho thêm cách tra bằng vẽ tay: vẽ chữ lên màn hình, máy đề xuất các chữ giống. Cách này nhanh với chữ rõ nét, nhưng người dùng cần vẽ đúng thứ tự nét thì máy mới nhận tốt.
Một thói quen nên có: mỗi chữ tra xong ghi vào sổ riêng, gồm chữ, âm Hán Việt, nghĩa, và câu trong gia phả nơi gặp chữ đó. Sau vài tuần, cuốn sổ ấy trở thành từ điển riêng của dòng họ mình.
Lộ trình gợi ý mười hai tuần
Lộ trình dưới đây giả định mỗi ngày học khoảng nửa giờ đến một giờ. Người có nền Hoa văn từ nhỏ sẽ đi nhanh hơn, người bắt đầu từ đầu có thể kéo dài gấp đôi; điều quan trọng là học đều.
- Tuần 1–2: chữ số, can chi, cách ghi năm tháng ngày. Tập đọc các dòng ngày tháng trên bài vị, bia mộ, thiệp cũ trong nhà.
- Tuần 3–4: năm mươi bộ thủ thường gặp và cách tra từ điển. Mỗi ngày tra mười chữ lấy từ chính gia phả nhà mình.
- Tuần 5–6: nhóm chữ quan hệ họ hàng, sinh, mất, cưới, chôn. Đọc thử năm mục đầu trong thế hệ biểu.
- Tuần 7–8: tên người, tên đất của dòng họ. Lập bảng tên các đời, tên quê theo chữ Hán, âm Hán Việt và tên hiện nay nếu tìm được.
- Tuần 9–10: đọc liền mạch phần thế hệ biểu, đánh dấu chữ chưa đọc được, không dừng lâu ở một chữ.
- Tuần 11–12: nhờ người biết chữ đọc lại các chỗ đánh dấu, sửa bảng phả hệ, rồi mới thử đọc bài tựa.
Đến cuối lộ trình, phần lớn người học đọc được phần thông tin của gia phả nhà mình. Bài tựa văn ngôn và chữ thảo có thể vẫn cần trợ giúp, và điều đó hoàn toàn bình thường.
Mẹo học cho người lớn tuổi
Học từ tư liệu của chính nhà mình. Chữ gặp trong gia phả, bài vị nhà mình có ý nghĩa riêng nên nhớ lâu hơn chữ trong sách giáo khoa. Mỗi chữ gắn với một người thân, một câu chuyện.
Viết tay vẫn có ích. Chép chữ bằng bút trên giấy, theo đúng thứ tự nét, giúp nhớ hình chữ và giúp tra vẽ tay trên điện thoại chính xác hơn. Không cần viết đẹp, chỉ cần viết đúng.
Phóng to và chiếu sáng. Mắt kém là trở ngại thật. Chụp ảnh trang gia phả rồi phóng to trên máy tính bảng, dùng đèn bàn chiếu nghiêng để thấy nét mực mờ. Không tự ý tô lại nét trên bản gốc.
Học theo nhóm. Vài người cùng hội đồng hương, cùng hội họ ngồi học với nhau mỗi tuần có thể đọc giúp nhau, chia sẻ tư liệu. Người nhớ chữ giỏi bù cho người biết điển tích, người biết dùng điện thoại giúp người tra từ điển giấy.
Rủ con cháu cùng làm. Con cháu giỏi công nghệ có thể chụp, lưu, lập bảng; người lớn tuổi đọc chữ, kể chuyện. Việc đọc gia phả trở thành dịp hai thế hệ ngồi cùng nhau, không chỉ là bài tập chữ.
Những chỗ nên nhờ người khác và giữ bản gốc an toàn
Có ba loại nội dung người tự học thường không nên tự kết luận: chữ thảo viết nhanh, chữ triện trên con dấu, và bài tựa hay văn tế viết bằng văn ngôn có điển tích. Với các phần này, nhờ người biết chữ ở hội đồng hương, nhà nghiên cứu Hán Nôm hoặc người làm nghề phiên dịch Hán văn đọc lại là cách chắc chắn.
Gia phả cũ là tư liệu dễ hỏng: giấy giòn, mực phai, mối mọt. Trước khi lật đọc nhiều lần, nên chụp toàn bộ từng trang dưới ánh sáng đều, đánh số trang, rồi đọc trên ảnh. Bản gốc cất trong hộp khô ráo, tránh nắng, tránh ẩm, ít mở ra.
Khi chia sẻ bản chụp cho họ hàng ở nước ngoài hay cho người đọc giúp, ghi rõ nguồn và giữ nguyên dạng chữ phồn thể, không chuyển sang giản thể. Nếu gia đình đồng ý, một bản số hoá đầy đủ gửi lại cho hội họ hoặc hội đồng hương giúp người khác cùng dòng họ có thêm manh mối.
Cuối cùng, gia phả có thể ghi sai: chép lại nhiều đời, mỗi người chép có thể nhầm một chữ, một năm. Đọc gia phả là đọc một tư liệu lịch sử, nên đối chiếu với bia mộ, bài vị, giấy tờ khác khi có thể, và ghi chú lại những chỗ không khớp thay vì tự sửa.
Đọc xong rồi: làm cho con cháu cũng đọc được
Đọc được gia phả mới là nửa việc. Nửa còn lại là chép lại sao cho con cháu, kể cả những đứa không biết chữ Hán, cũng dùng được. Cách làm phổ biến là lập một bảng phả hệ có các cột: đời thứ, tên chữ Hán, âm Hán Việt, cách đọc theo phương ngữ của nhà, tên trên giấy tờ Việt Nam nếu có, năm sinh mất, quan hệ.
Tên trên giấy tờ Việt Nam của ông bà thường khác tên trong gia phả, có khi chỉ giữ họ, có khi đổi hẳn tên. Ghi cả hai cạnh nhau giúp con cháu sau này nối được tư liệu dòng họ với giấy khai sinh, giấy tờ đất, bia mộ ở Việt Nam. Với họ hàng ở nước ngoài, thêm một cột tên viết Latinh theo cách họ đang dùng, như Tan, Lim, Wong, để mọi người nhận ra nhau.
Một sơ đồ cây đơn giản vẽ tay hoặc làm trên máy, kèm vài trang kể chuyện từng đời bằng tiếng Việt, thường được con cháu đọc nhiều hơn cả bảng số liệu. Những câu chuyện ông bà kể khi cùng đọc gia phả, như ai đi thuyền sang, ai mở tiệm đầu tiên, nên ghi lại ngay, ghi rõ người kể và năm kể.
Câu hỏi thường gặp
Ngoài sáu mươi tuổi học chữ Hán có muộn không?
Không muộn nếu mục tiêu rõ và vừa sức. Đọc gia phả nhà mình là mục tiêu hẹp, dùng vốn chữ hữu hạn, nên người lớn tuổi hoàn toàn làm được. Người lớn tuổi còn có lợi thế là biết nhiều chuyện gia đình, giúp đoán nghĩa và kiểm tra thông tin trong gia phả tốt hơn người trẻ.
Nên học âm Hán Việt hay âm tiếng Phổ thông khi đọc gia phả?
Với người Việt gốc Hoa ở Việt Nam, âm Hán Việt thuận nhất để ghi nhớ và ghi chép, vì từ điển Hán Việt dùng âm này. Nếu muốn nói chuyện với họ hàng ở nước ngoài về gia phả, nên ghi thêm cách đọc phương ngữ của gia đình hoặc tiếng Phổ thông bên cạnh.
Từng học Hoa văn hồi nhỏ thì có cần học lại từ đầu không?
Thường không. Người từng học sẽ nhớ lại khá nhanh sau vài tuần đọc đều. Điểm cần bổ sung là chữ phồn thể nếu hồi nhỏ học giản thể, và vốn chữ chuyên biệt của gia phả như can chi, tôn xưng, chữ về tang lễ, vốn không có nhiều trong sách học tiếng.
Có thể dùng máy dịch toàn bộ gia phả không?
Máy giúp nhận chữ in rõ và gợi ý nghĩa, nhưng gia phả có chữ viết tay, chữ dị thể, văn ngôn và tên riêng nên bản dịch máy thường sai ở chính những chỗ quan trọng nhất là tên người và tên đất. Nên dùng máy như công cụ hỗ trợ, rồi kiểm tra từng chữ bằng từ điển.
Bài thơ chữ lót của dòng họ tìm ở đâu?
Thường nằm ở đầu hoặc cuối gia phả, có khi khắc trên bài vị, bia mộ hoặc treo ở nhà thờ họ. Hội họ (tông thân hội) ở Việt Nam và nước ngoài đôi khi còn lưu bài thơ chữ lót của nhiều chi. So tên các đời trong gia đình với bài thơ là cách kiểm tra mình đã đọc đúng thứ tự đời hay chưa.
Gia phả ghi một năm can chi mà không có niên hiệu thì xác định thế nào?
Năm can chi lặp lại sau sáu mươi năm, nên cần dựa vào các mốc khác: tuổi thọ của người đó, năm sinh của con cái, tuổi của đời trước và đời sau, các giấy tờ có năm dương lịch. Ghép các mốc lại thường chỉ còn một năm hợp lý. Nên ghi rõ năm suy ra là ước đoán.