Từ thập niên 1980 đến nay, người Hoa đi xa chủ yếu theo ba ngả: du học rồi ở lại làm việc, đi lao động hoặc làm kỹ sư, chuyên gia theo hợp đồng, và kinh doanh, đầu tư; nhiều gia đình sống chia ra hai ba nước cùng lúc. Người trong cộng đồng hay gọi lớp người này là tân di dân, để phân biệt với những cộng đồng Hoa kiều đã có mặt nhiều đời.
Lớp mới đến từ Trung Quốc đại lục là đông nhất, bên cạnh người từ Đài Loan, Hồng Kông, Malaysia, Singapore. Họ khác lớp cũ về tiếng nói, cách đi, nghề nghiệp và cả quan hệ với quê nhà. Bài đi qua các ngả đi chính, những kiểu gia đình xuyên quốc gia, và chuyện lớp mới gặp cộng đồng cũ, kể cả ở Việt Nam.
Tân di dân khác Hoa kiều lớp cũ ở đâu
Hoa kiều lớp cũ phần lớn ra đi từ vài vùng quê ven biển Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam, nói phương ngữ, đi theo dây làng xóm, làm nghề tay chân rồi dần lên buôn bán. Tân di dân đến từ khắp các tỉnh, cả vùng nội địa trước nay hiếm người đi xa, nói tiếng Phổ thông là chính, đi một mình hoặc theo gia đình nhỏ.
Nhiều người có bằng đại học, làm trong ngành kỹ thuật, tài chính, y tế, giáo dục, công nghệ; số khác đi lao động hợp đồng ở công trường, nhà máy, nhà hàng. Họ quen với điện thoại, mạng xã hội, chuyển tiền qua ngân hàng, gọi video về nhà mỗi tối. Khoảng cách với quê không còn là năm tháng chờ một lá kiều phê mà chỉ là vài giờ bay.
Vì khác nhau như vậy, ở nhiều nơi lớp mới và lớp cũ sống cạnh nhau mà ít giao thoa. Hội quán của bang Triều Châu hay Quảng Đông lâu đời không phải lúc nào cũng là nơi người mới tìm đến; họ lập hội của mình theo tỉnh, theo trường đại học, theo ngành nghề, hoặc chỉ là nhóm trên mạng.
Du học rồi ở lại
Ngả đi phổ biến nhất của tân di dân là du học. Sinh viên sang Mỹ, Canada, Anh, Úc, Nhật, Singapore học đại học, sau đại học, rồi một phần ở lại làm việc, lập gia đình. Qua vài chục năm, ở các thành phố đại học lớn đã hình thành cả một lớp kỹ sư, giảng viên, nhà nghiên cứu người Hoa thế hệ đầu, con cái họ lớn lên là người bản xứ.
Học sinh người Hoa Malaysia có truyền thống sang Đài Loan học đại học từ nhiều thập kỷ, rồi về nước hoặc đi tiếp. Người Hoa ở Indonesia, Thái Lan, Philippines cũng gửi con đi học ở Singapore, Úc, Mỹ. Ở Việt Nam, nhiều gia đình người Hoa cho con học tiếng Phổ thông từ nhỏ, rồi chọn du học ở Đài Loan, Singapore hay Trung Quốc; chuyện chọn trường, chọn ngành thuộc phạm vi các trang chuyên về du học.
Điều đáng nói ở góc lịch sử di cư là du học đã thay chỗ cho bến tàu: nếu thế kỷ 19 người ta đi theo chú bác xuống Nam Dương, thì nay người ta đi theo một lá thư mời nhập học. Mạng lưới đồng hương vẫn còn, nhưng đổi thành mạng lưới bạn học, cựu sinh viên.
Đi làm việc: kỹ sư, chuyên gia và lao động hợp đồng
Ngả thứ hai là đi làm việc. Ở đầu cao là kỹ sư, chuyên gia, quản lý được công ty cử đi hoặc tự tìm việc ở nước ngoài; ở đầu kia là lao động hợp đồng làm xây dựng, nhà máy, nhà hàng, chăm sóc người già. Nhiều người đi vài năm rồi về, có người chuyển tiếp từ nước này sang nước khác theo dự án.
Châu Âu có một ví dụ đáng chú ý về dây quê cũ nối sang thời mới: người Ôn Châu và Thanh Điền ở tỉnh Chiết Giang. Từ đầu thế kỷ 20, người Thanh Điền đã mang đá chạm khắc sang châu Âu bán, rồi ở lại. Từ thập niên 1980, con cháu và người cùng quê của họ đi theo dây ấy sang Ý, Pháp, Tây Ban Nha, Hà Lan, mở xưởng may, cửa hàng bán buôn, nhà hàng. Thành phố Prato ở Ý có một trong những cộng đồng người Hoa lớn nhất châu Âu, phần lớn làm trong ngành dệt may.
Châu Phi, Trung Đông, Mỹ Latinh cũng có người Hoa đến làm việc trong các công trình xây dựng, mỏ, thương mại từ những năm 2000. Phần lớn họ đi theo hợp đồng có thời hạn, nhưng ở nhiều thành phố đã hình thành những khu buôn bán, nhà hàng của người Hoa ở lâu dài.
Kinh doanh và đầu tư: đi theo vốn
Ngả thứ ba là kinh doanh. Người Hoa từ Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Malaysia, rồi từ đại lục, mở nhà máy, văn phòng, cửa hàng ở nhiều nước Đông Nam Á, châu Âu, châu Mỹ. Người chủ thường đi lại giữa hai nơi, gia đình có thể ở một nước, công việc ở nước khác.
Nhiều nước có diện cư trú dành cho người đầu tư hoặc mở doanh nghiệp, và một phần gia đình người Hoa có điều kiện đi theo đường này. Điều kiện, thủ tục của từng nước thay đổi thường xuyên và thuộc phạm vi các trang chuyên về định cư, thường trú; ở đây chỉ ghi nhận đây là một ngả đi quan trọng của vài chục năm gần đây.
So với người đi Nam Dương ngày trước, người đi theo vốn ít khi cần đến bang hội để sống còn, nhưng lại hay tìm đến thương hội, hội doanh nhân của người Hoa ở nước sở tại để có quan hệ làm ăn. Ở Singapore, Malaysia, Thái Lan, các thương hội người Hoa lâu đời vẫn là nơi lớp doanh nhân cũ và mới gặp nhau.
Đọc số liệu về người Hoa ở nước ngoài cho đúng
Khi đọc tin về "bao nhiêu triệu người Hoa ở nước ngoài", cần hỏi trước số ấy đếm ai. Có nguồn chỉ đếm người mang quốc tịch Trung Quốc sống ở nước ngoài; có nguồn đếm cả người gốc Hoa đã mang quốc tịch nước sở tại nhiều đời; có nguồn đếm theo người tự khai dân tộc Hoa trong tổng điều tra của từng nước.
Vì định nghĩa khác nhau, các con số chênh nhau rất xa, và không nên ghép số của nước này với số của nước khác như thể cùng một cách đếm. Ở Việt Nam, Tổng điều tra dân số năm 2019 ghi dân tộc Hoa khoảng 750 nghìn người; con số này không gồm những người có ông bà gốc Hoa nhưng khai dân tộc Kinh.
Với tân di dân, số liệu càng khó vì nhiều người đi lại giữa các nước, có người mang hai giấy tờ cư trú, có người ở theo hợp đồng ngắn hạn. Cách đọc an toàn là xem số liệu của cơ quan thống kê từng nước, ghi rõ năm và cách đếm, thay vì dựa vào một con số tròn lan truyền trên mạng.
Gia đình xuyên quốc gia: phi hành gia, du học sinh nhỏ tuổi, ông bà chăm cháu
Một kiểu gia đình đặc trưng của tân di dân là gia đình sống ở nhiều nước cùng lúc. Thập niên 1990, báo chí ở Vancouver và Hồng Kông nói nhiều về "gia đình phi hành gia": vợ con sống ở Canada, chồng ở lại Hồng Kông làm việc và bay qua bay lại, như phi hành gia sống trên trời.
Một kiểu khác là trẻ em, thiếu niên được gửi sang nước ngoài học một mình hoặc ở với người quen, tiếng Hoa gọi là tiểu lưu học sinh. Ngược lại, khi con đã định cư ở nước ngoài và có con nhỏ, ông bà từ quê sang ở vài tháng hoặc vài năm để chăm cháu, giữ tiếng nói và món ăn của gia đình cho thế hệ thứ ba.
Những kiểu gia đình này giúp người trong nhà giữ được việc làm, cơ hội học hành, nhưng cũng có cái giá: vợ chồng xa nhau, con cái lớn lên thiếu cha hoặc mẹ, ông bà già yếu ở xứ lạ không quen tiếng. Nếu đặt cạnh những người vợ ở làng Triều Châu chờ kiều phê một trăm năm trước, có thể thấy câu chuyện chia cách gia đình vì mưu sinh vẫn lặp lại, chỉ có phương tiện là khác.
Di cư vòng: đi rồi lại về, về rồi lại đi
Một nét mới của vài chục năm gần đây là di cư không còn đi một chiều. Người Hoa Malaysia sang Singapore làm việc rồi về Kuala Lumpur nghỉ hưu; con cháu Hoa kiều ở Mỹ, Canada sang Hồng Kông, Đài Bắc, Thượng Hải làm việc vài năm; người Hoa gốc Việt ở Úc, Mỹ về Việt Nam mở công ty, làm đại diện cho doanh nghiệp nước ngoài.
Giới nghiên cứu gọi hiện tượng này là di cư vòng hoặc di cư nhiều chặng. Một người có thể đã sống ở ba bốn nước trước tuổi bốn mươi, nói nhiều thứ tiếng, và không còn coi nơi nào là "quê" duy nhất. Khái niệm Hoa kiều theo nghĩa người Hoa sống tạm ở nước ngoài và mong ngày về vì vậy ngày càng ít đúng với họ.
Với các gia đình người Hoa ở Việt Nam, di cư vòng thể hiện rõ: anh chị em có người ở Mỹ, người ở Úc, người ở lại Chợ Lớn; con cháu sinh ra ở nước ngoài về thăm, có người ở lại làm việc. Những cuộc gặp như vậy thường là dịp để cả nhà ngồi lại đọc gia phả, hỏi về ông bà, và nhận ra mình là một phần của câu chuyện di cư dài hơn nhiều so với tưởng tượng.
Lớp mới ở Việt Nam và chuyện gặp cộng đồng cũ
Từ thập niên 1990, Việt Nam đón một lớp người Hoa mới: kỹ sư, quản lý, chủ doanh nghiệp từ Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Malaysia, rồi từ đại lục, làm việc ở các khu công nghiệp TP.HCM (gồm cả vùng Bình Dương cũ), Đồng Nai, Bắc Ninh, Hải Phòng và nhiều tỉnh khác. Có người sống ở đây vài năm, có người lập gia đình với người Việt, người Hoa Việt Nam và ở lại lâu dài.
Quan hệ giữa lớp mới và cộng đồng người Hoa Việt Nam rất đa dạng. Người Hoa ở Chợ Lớn thường làm phiên dịch, quản lý, đối tác cho doanh nghiệp mới đến nhờ biết cả tiếng Hoa lẫn tiếng Việt. Một số người mới tìm đến hội quán, chùa, trường dạy tiếng Hoa của cộng đồng sở tại; số khác sống trong vòng đồng nghiệp, ít giao thiệp.
Khác biệt dễ thấy nhất là tiếng nói và chữ viết: người mới nói tiếng Phổ thông, viết chữ giản thể; người Hoa Việt Nam lớn tuổi nói tiếng Quảng, Triều Châu, quen chữ phồn thể. Nhiều gia đình người Hoa ở Việt Nam vì thế cho con học tiếng Phổ thông để làm việc, đồng thời cố giữ phương ngữ của ông bà trong nhà. Đó cũng là cách mỗi gia đình tự nối lớp cũ với lớp mới.
Câu hỏi thường gặp
Tân di dân là gì?
Tân di dân là cách gọi những người Hoa đi định cư, làm việc ở nước ngoài từ khoảng thập niên 1980 trở lại đây, phần đông từ Trung Quốc đại lục, bên cạnh người từ Đài Loan, Hồng Kông, Malaysia, Singapore. Họ khác lớp Hoa kiều cũ về tiếng nói, nghề nghiệp và cách đi.
Gia đình phi hành gia nghĩa là gì?
Đây là cách gọi xuất hiện ở Vancouver và Hồng Kông thập niên 1990, chỉ những gia đình có vợ con sống ở nước ngoài còn người chồng làm việc ở quê và bay qua bay lại thường xuyên. Về sau từ này dùng chung cho các gia đình sống chia ở hai nước vì công việc.
Vì sao ở Ý có nhiều người Hoa làm dệt may?
Người Ôn Châu và Thanh Điền ở Chiết Giang đã có mặt ở châu Âu từ đầu thế kỷ 20. Từ thập niên 1980, con cháu và người cùng quê của họ sang Ý, mở xưởng may, cửa hàng bán buôn. Thành phố Prato là nơi tập trung đông nhất.
Di cư vòng là gì?
Di cư vòng là khi người ta không đi một chiều mà sống qua nhiều nước, đi rồi lại về, về rồi lại đi theo công việc, học hành, gia đình. Nhiều người Hoa trẻ hôm nay đã sống ở ba bốn nước và không còn coi nơi nào là quê duy nhất.
Người Hoa mới đến Việt Nam có tham gia hội quán của cộng đồng cũ không?
Có người tham gia, có người không. Một số tìm đến hội quán, chùa, trường dạy tiếng Hoa để kết nối, nhất là khi lập gia đình ở Việt Nam. Số khác chủ yếu sống trong vòng đồng nghiệp. Tiếng nói và chữ viết khác nhau là một lý do khiến hai lớp người ít giao thoa.
Gia đình người Hoa ở Việt Nam nên cho con học tiếng Phổ thông hay giữ tiếng Quảng, Triều Châu?
Nhiều gia đình chọn cả hai: con học tiếng Phổ thông ở trường hoặc lớp ngoài giờ để dùng trong học tập, công việc, còn ở nhà ông bà, cha mẹ nói tiếng Quảng hay Triều Châu để giữ tiếng nói của gia đình. Trẻ nhỏ học song song hai thứ tiếng khá nhanh nếu được nghe đều đặn.