Một tấm bia mộ người Hoa đời trước thường ghi ba nhóm thông tin: hàng chữ lớn ở giữa là danh xưng và tên người mất, hàng nhỏ bên phải là năm tháng và có khi là quê quán, hàng nhỏ bên trái là tên con cháu lập bia và năm lập; nhiều bia còn khắc tên huyện hoặc làng quê ở phía trên cùng. Đọc được ba nhóm này là đã có tên, đời, năm mất, quê gốc và danh sách con cháu của một người, tức gần như cả một trang gia phả.
Bài vị trên bàn thờ nhà ghi theo nguyên tắc tương tự, gọn hơn. Bài này giới thiệu bố cục bia, bảng chữ hay gặp, cách đổi niên hiệu ra năm dương lịch, cách chụp bia cũ cho đọc được, và những điều cần biết về bài vị. Bia mộ và bài vị được nói đến như di sản gia đình; bài không bàn nghi lễ.
Bố cục một tấm bia: giữa, phải, trái, trên
Chữ trên bia viết theo hàng dọc, đọc từ trên xuống, từ phải sang trái. Hàng giữa chữ to nhất, thường mở đầu bằng danh xưng chỉ quan hệ với người lập bia, như 顯考 (hiển khảo, cha đã mất) hay 顯妣 (hiển tỷ, mẹ đã mất), tiếp theo là họ, tên hoặc tên tự, một chữ kính xưng như 公 (công) cho đàn ông, 孺人 (nhụ nhân) hay 氏 (thị) cho phụ nữ, và kết bằng 之墓 (chi mộ, mộ của).
Hàng bên phải thường ghi năm sinh, năm mất hoặc năm lập bia theo niên hiệu và can chi, có khi kèm tuổi thọ. Hàng bên trái thường bắt đầu bằng 孝男 (hiếu nam, con trai), 孝女 (hiếu nữ, con gái), 孝孫 (hiếu tôn, cháu), rồi liệt kê tên, và kết bằng chữ 立 (lập) hoặc 仝立 (đồng lập, cùng lập).
Phía trên cùng, nhiều bia người Hoa khắc tên quê theo chiều ngang, ngắn gọn như tên một huyện hay một châu: 澄海, 新會, 文昌, 嘉應. Đây là dòng quý nhất với người tìm gốc. Có bia ghi quê ở đầu hàng bên phải, trước năm tháng. Bia mộ chung của vợ chồng thì có hai tên ở hàng giữa, thường chồng bên phải, vợ bên trái.
Bia ở Việt Nam có khi kèm thêm một dòng chữ quốc ngữ ghi tên Hán Việt và năm dương lịch, nhất là bia lập từ giữa thế kỷ 20 trở đi. Dòng này rất có ích để nối tên chữ Hán với tên trên giấy tờ.
Bảng chữ hay gặp trên bia mộ và bài vị
Những chữ dưới đây lặp lại trên phần lớn bia mộ và bài vị người Hoa. Nhận ra chúng giúp đọc được khung của tấm bia ngay cả khi chưa đọc hết tên.
| Chữ Hán | Âm Hán Việt | Nghĩa |
|---|---|---|
| 顯考 / 顯妣 | hiển khảo / hiển tỷ | cha đã mất / mẹ đã mất (con lập) |
| 祖考 / 祖妣 | tổ khảo / tổ tỷ | ông đã mất / bà đã mất (cháu lập) |
| 公 / 府君 | công / phủ quân | kính xưng người đàn ông đã mất |
| 孺人 / 氏 | nhụ nhân / thị | kính xưng người phụ nữ; 氏 đi sau họ của bà |
| 享壽 / 享年 | hưởng thọ / hưởng niên | thọ bao nhiêu tuổi, thường tính theo tuổi mụ |
| 皇清 | Hoàng Thanh | đứng đầu bia thời nhà Thanh, cho biết bia lập trước năm 1912 |
| 民國 X 年 | Dân Quốc năm X | cộng 1911 ra năm dương lịch |
| 孝男 / 孝孫 ... 立 | hiếu nam / hiếu tôn ... lập | con trai / cháu ... lập bia |
| 吉旦 / 吉日 | cát đán / cát nhật | ngày lập bia, thường đứng cuối hàng năm tháng |
Tuổi thọ ghi trên bia thường là tuổi tính theo lối cũ, cộng thêm một so với tuổi tròn. Khi suy năm sinh từ năm mất và tuổi thọ, nên ghi rõ là "khoảng", trừ khi bia ghi năm sinh riêng.
Chụp bia cũ cho đọc được chữ
Bia mộ người Hoa ở Việt Nam phần nhiều bằng đá, có khi bằng xi măng, qua mưa nắng nhiều chục năm chữ mờ đi và rêu bám. Một tấm ảnh tốt đáng giá hơn mọi lần cạo rửa. Cách làm an toàn:
- Xin phép gia đình chủ mộ hoặc ban quản lý nghĩa trang trước khi chụp mộ không phải của nhà mình.
- Chụp toàn cảnh mộ và khu xung quanh trước, để sau này tìm lại được vị trí.
- Chụp thẳng góc với mặt bia, rồi chụp thêm vài tấm khi ánh sáng chiếu xiên từ một bên, sáng sớm hoặc chiều muộn; ánh sáng xiên làm nét khắc nổi rõ hơn.
- Nếu trời âm u, dùng đèn pin hoặc đèn điện thoại chiếu xiên từ cạnh bia; có thể dùng một tấm gương phản chiếu nắng.
- Gạt nhẹ lá, bụi bằng tay hoặc chổi mềm; không dùng bàn chải sắt, không dùng hoá chất tẩy, không tô phấn hay mực vào chữ.
- Chụp cận từng hàng chữ, rồi ghi ngay vào sổ: tên nghĩa trang, khu, hàng, vị trí ước chừng, ngày chụp.
Việc tô sơn vào chữ bia, nếu gia đình muốn làm để giữ gìn, nên làm sau khi đã chụp đầy đủ bản gốc và nhờ người đọc được chữ Hán kiểm, vì tô sai một nét là thành chữ khác.
Bài vị trong nhà: gọn hơn bia nhưng có khi đầy đủ hơn
Bài vị là tấm gỗ đặt trên bàn thờ gia đình, ghi danh xưng và tên người đã mất, có khi kèm năm mất và quê quán. Bài vị chung của dòng họ có thể ghi tên nhiều đời. Với người tìm gốc, bài vị quý vì nó nằm ngay trong nhà, không bị dời đi như mộ.
Một số kiểu bài vị truyền thống gồm hai phần: tấm mặt ngoài ghi danh xưng, và phần bên trong ghi chi tiết hơn như ngày giờ sinh mất, nơi chôn. Có gia đình chưa từng biết phần bên trong. Việc có xem phần đó hay không là chuyện riêng của mỗi nhà, nên hỏi người lớn tuổi và làm theo nếp nhà mình; nếu xem, chỉ cần chụp lại rồi đặt về như cũ.
Ngoài bài vị gỗ, nhiều nhà người Hoa ở Việt Nam có một tờ giấy đỏ hoặc tấm bảng ghi tên tổ tiên dán ở bàn thờ, hoặc một tấm ảnh kèm tên. Những thứ này hay bị thay khi sửa nhà, vì vậy nên chụp lại trước bất kỳ đợt sửa sang nào. Hội quán và chùa miếu của cộng đồng cũng có khi giữ bài vị của những người không còn con cháu thờ, hoặc bài vị của những người đã đóng góp lớn; đây là nơi nên hỏi khi tìm một người họ hàng xa đã mất không rõ mộ.
Mốc năm đầu của các niên hiệu hay gặp trên bia ở Việt Nam
Bia mộ người Hoa ở Việt Nam có thể ghi niên hiệu nhà Thanh, năm Dân Quốc, hoặc niên hiệu các vua nhà Nguyễn khi người lập bia muốn ghi theo nơi đang sống. Muốn đổi sang dương lịch, lấy năm đầu của niên hiệu cộng với số năm ghi trên bia rồi trừ một. Các mốc hay gặp:
- Nhà Thanh: Đạo Quang bắt đầu 1821, Hàm Phong 1851, Đồng Trị 1862, Quang Tự 1875, Tuyên Thống 1909.
- Dân Quốc: năm thứ nhất là 1912, nên cộng 1911 vào số năm ghi trên bia.
- Nhà Nguyễn: Minh Mạng bắt đầu 1820, Thiệu Trị 1841, Tự Đức 1848, Thành Thái 1889, Duy Tân 1907, Khải Định 1916, Bảo Đại 1926.
- Bia từ giữa thế kỷ 20 trở đi ở Việt Nam thường ghi thẳng năm dương lịch, có khi kèm năm can chi.
Ví dụ: "Quang Tự năm thứ hai mươi" là 1875 cộng 20 trừ 1, tức 1894. Sau khi tính, nên kiểm lại bằng năm can chi khắc cùng dòng; nếu can chi không khớp thì có thể đã đọc nhầm số hoặc nhầm niên hiệu. Số trên bia thường viết bằng chữ, đôi khi dùng dạng tắt như 廿 (hai mươi) và 卅 (ba mươi), nên một nét mờ cũng có thể làm lệch cả chục năm.
Nghĩa trang người Hoa và mộ đã dời
Ở các đô thị có đông người Hoa như TP.HCM, Biên Hoà (Đồng Nai), Hội An (Đà Nẵng), Cần Thơ, nhiều nghĩa trang do các bang, hội quán lập từ thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Khi đô thị mở rộng, không ít nghĩa trang cũ đã được di dời; hài cốt được cải táng về nghĩa trang khác hoặc được gia đình nhận về, và bia cũ không phải lúc nào cũng đi theo.
Nếu gia đình biết mộ ông bà từng ở một nghĩa trang nay không còn, hãy hỏi theo thứ tự: người lớn tuổi trong họ có tham gia việc cải táng không, hội quán của nhóm phương ngữ nhà mình có lưu sổ cải táng không, và nghĩa trang mới nơi hài cốt được chuyển tới có sổ ghi tên không. Sổ sách của các hội quán thường ghi tên chữ Hán và quê quán, nên đôi khi còn đầy đủ hơn bia.
Khi đi tìm ở nghĩa trang cũ còn lại, nên đi cùng người lớn tuổi từng viếng mộ hằng năm nếu có thể. Nghĩa trang người Hoa thường chia khu theo bang hoặc theo hội đồng hương, nên biết nhà mình thuộc nhóm nào sẽ khoanh được khu cần tìm. Mộ người cùng quê hay nằm gần nhau, vì hội đồng hương ngày trước mua đất và lo an táng cho người cùng quê.
Ngoài Việt Nam, các nghĩa trang người Hoa lâu đời ở Penang, Malacca, Singapore, Jakarta, San Francisco cũng là nơi tìm mộ của họ hàng từng sang đó. Nhiều nghĩa trang ở đây đã được các nhóm tình nguyện chụp ảnh và lập danh mục, có thể tra theo họ hoặc theo quê khắc trên bia.
Ví dụ giả định: đọc một tấm bia từ đầu đến cuối
Giả sử một tấm bia có hàng trên cùng ghi 新會, hàng giữa ghi 顯考李公諱永昌之墓, hàng phải ghi 民國廿五年丙子, hàng trái ghi 孝男家明 家亮 仝立. Đọc lần lượt: quê Tân Hội; mộ của người cha đã mất, họ Lý, tên chính là Vĩnh Xương; năm Dân Quốc thứ hai mươi lăm, năm Bính Tý, tức 1936; hai con trai Gia Minh và Gia Lượng cùng lập bia.
Chỉ một tấm bia đã cho biết: nhà thuộc nhóm người Quảng vùng Tứ Ấp, đời ông dùng chữ lót Vĩnh, đời cha dùng chữ lót Gia, và cho tên hai người con để tìm tiếp mộ hay bài vị của họ. Nếu gia phả nhà có bài thơ phân đời, có thể kiểm xem Vĩnh và Gia có đứng liền nhau trong bài thơ hay không.
Từ đây, việc tiếp theo là tìm hiểu Tân Hội ngày nay thuộc đâu, xem hội đồng hương người Tân Hội ở Việt Nam hoặc ở các nước còn hoạt động không, và hỏi những gia đình họ Lý cùng quê. Tấm bia, nếu được chụp kỹ và ghi chép đủ, đã làm xong phần khó nhất của việc tìm gốc.
Câu hỏi thường gặp
Chữ 顯 ở đầu bia mộ có nghĩa là gì?
Chữ 顯 (hiển) là chữ kính xưng con cháu dùng cho cha mẹ, ông bà đã mất, hàm ý tôn kính. 顯考 là cha đã mất, 顯妣 là mẹ đã mất. Nó cho biết người lập bia là con của người nằm dưới mộ, giúp xác định quan hệ trong gia đình.
Bia không ghi quê quán thì tìm quê ở đâu?
Hãy xem các bia của anh em, vợ, con của người đó; thường có ít nhất một bia ghi quê. Ngoài ra bài vị trong nhà, sổ hội quán, giấy tờ cư trú thời trước và lời kể người già cũng có thể có. Tấm bia của người đi xa đầu tiên hay ghi quê rõ nhất.
Bia ghi năm theo can chi mà không có niên hiệu thì đổi thế nào?
Năm can chi lặp lại sau 60 năm, nên cần thêm thông tin để chọn đúng chu kỳ: tuổi thọ, năm sinh của con cháu ghi ở bia khác, kiểu chữ và vật liệu bia. Thường chỉ một chu kỳ là hợp lý; ghi kết quả kèm chữ "khoảng" nếu chưa chắc.
Có nên tô sơn đỏ hoặc vàng vào chữ bia cũ không?
Đó là lựa chọn của gia đình. Tô sơn giúp chữ dễ đọc nhưng nếu tô sai nét thì chữ đổi nghĩa và bản gốc bị che. Nên chụp đầy đủ trước, nhờ người đọc chữ Hán kiểm, và dùng loại sơn không ăn mòn đá.
Mộ của tổ tiên ở nghĩa trang đã giải toả thì có còn cách tìm không?
Có thể còn. Hỏi người lớn tuổi từng tham gia cải táng, hỏi hội quán của nhóm phương ngữ vì nhiều hội quán đứng ra lo việc này và có sổ ghi, rồi hỏi nghĩa trang mới nơi hài cốt được chuyển tới. Không phải trường hợp nào cũng tìm ra, nhưng sổ sách thường đầy đủ hơn mọi người nghĩ.
Bia mộ có chữ quốc ngữ bên cạnh chữ Hán thì tin phần nào hơn?
Mỗi phần có giá trị riêng. Phần chữ Hán giữ đúng chữ gốc của tên và quê, phần quốc ngữ cho biết tên Hán Việt gia đình dùng trên giấy tờ và năm dương lịch. Khi hai phần lệch nhau, ghi cả hai vào bảng đối chiếu rồi tìm nguồn thứ ba.