Từ đầu thế kỷ 20, các bang người Hoa ở Sài Gòn – Chợ Lớn đã góp tiền lập bệnh viện, nghĩa trang, quỹ tương tế và phòng thuốc từ thiện để lo cho người cùng quê; một số bệnh viện lớn của TP.HCM hôm nay như Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Trãi, An Bình, Hùng Vương có tiền thân là bệnh viện của các bang. Ở các tỉnh, quy mô nhỏ hơn: một phòng thuốc bắc phát thuốc miễn phí, một khu nghĩa địa chung, một quỹ hiếu hỉ ở hội quán.
Những thiết chế ấy ra đời vì người mới đến không có họ hàng, ốm đau hay qua đời nơi đất khách thì cần có người lo. Qua thời gian, chúng phục vụ cả người không phải người Hoa. Bài này kể lại từng loại thiết chế, cách chúng được góp vốn và vận hành, những gì còn lại hôm nay, và vài điều thực tế cho con cháu khi tìm mộ phần tổ tiên.
Vì sao một cộng đồng phải tự lập bệnh viện, nghĩa trang
Phần lớn người Hoa sang Việt Nam thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 là đàn ông trẻ đi làm thuê, buôn bán, không có gia đình đi cùng. Khi ốm nặng, không ai chăm; khi chết, không ai lo chôn cất, cúng giỗ. Với người quan niệm "lá rụng về cội", chết nơi đất khách mà không có mồ mả là điều đáng sợ nhất.
Hội quán và bang là câu trả lời đầu tiên. Ngoài việc thờ tự và giúp người mới đến tìm việc, bang lập quỹ lo ma chay, mua đất làm nghĩa địa, mở phòng thuốc. Khi cộng đồng đông lên và có những thương gia giàu, các phòng thuốc nhỏ phát triển thành bệnh viện có bác sĩ, y tá, giường bệnh.
Nếp tương trợ này có gốc từ quê nhà, nơi các dòng họ và làng xã vốn có ruộng họ, quỹ họ để lo cho người nghèo trong họ. Sang đất mới, khi không còn dòng họ đông đủ bên cạnh, người cùng quê, cùng phương ngữ thay chỗ cho họ hàng, và bang trở thành một kiểu dòng họ mở rộng.
Đây không phải chuyện riêng của người Hoa ở Việt Nam. Các cộng đồng người Hoa ở Singapore, Penang, Bangkok, San Francisco cũng lập bệnh viện, nghĩa trang và hội tương tế theo cùng một logic. Ở Việt Nam, Chợ Lớn là nơi hệ thống này phát triển đầy đủ nhất.
Những bệnh viện ở TP.HCM có gốc từ các bang
Theo lịch sử được chính các bệnh viện và giới nghiên cứu ghi lại, một số bệnh viện lớn ở TP.HCM có tiền thân là bệnh viện của các bang người Hoa, lập trong nửa đầu thế kỷ 20. Bảng dưới chỉ nêu mối liên hệ chính, không đi vào năm thành lập chi tiết.
| Bệnh viện hôm nay | Tiền thân | Bang lập |
|---|---|---|
| Bệnh viện Nguyễn Tri Phương | Bệnh viện Quảng Đông | Bang Quảng Đông |
| Bệnh viện Nguyễn Trãi | Bệnh viện Phúc Kiến | Bang Phúc Kiến |
| Bệnh viện An Bình | Bệnh viện Triều Châu | Bang Triều Châu |
| Bệnh viện Hùng Vương | Bệnh viện Sùng Chính | Cộng đồng người Hẹ |
Ngày nay, các bệnh viện này là bệnh viện công lập, phục vụ mọi người dân, chuyên môn và quy mô đã thay đổi nhiều so với thời đầu. Một số nơi còn giữ toà nhà cũ, bia ghi công đức hoặc tư liệu về lịch sử thành lập, cho thấy công sức đóng góp của cộng đồng.
Danh sách trên không đầy đủ; còn có các phòng khám, nhà hộ sinh nhỏ hơn do các hội đồng hương, hội họ lập, nhiều nơi đã đổi tên hoặc không còn.
Bệnh viện bang vận hành ra sao
Vốn xây bệnh viện đến từ các thương gia trong bang, từ quyên góp của hội viên và từ các buổi gây quỹ dịp lễ. Tên người góp tiền được khắc bia hoặc ghi bảng vàng ở sảnh, như một cách ghi nhận và cũng là cách khuyến khích người khác góp.
Bệnh viện có cả khu chữa bệnh theo Tây y và khu thuốc bắc. Bác sĩ nhiều người học ở Hồng Kông, Quảng Châu hoặc học trường y ở Hà Nội, Pháp; thầy thuốc Đông y là các lương y trong cộng đồng. Người nghèo, người neo đơn được chữa miễn phí hoặc giảm tiền nhờ quỹ của bang.
Ban trị sự bệnh viện thường trùng với ban trị sự hội quán, nên bệnh viện, hội quán, trường học và nghĩa trang của một bang vận hành như một hệ thống. Người cùng quê từ lúc sinh ra (nhà hộ sinh), đi học (trường bang), ốm đau (bệnh viện) đến lúc mất (nghĩa trang) đều có chỗ dựa trong cộng đồng.
Ngoài bệnh viện, các bang còn lập nhà hộ sinh cho sản phụ nghèo. Thời chưa có bảo hiểm y tế, một ca sinh khó có thể làm cả gia đình lao đao, nên nhà hộ sinh của bang là chỗ dựa lớn cho các gia đình lao động trong phố, bất kể là người Hoa hay người Việt.
Bệnh viện bang cũng nhận người Việt và người các dân tộc khác. Ở một thành phố đông người như Sài Gòn – Chợ Lớn đầu thế kỷ 20, những bệnh viện này góp phần vào hệ thống y tế chung, nhất là cho người lao động nghèo.
Ở các tỉnh: phòng thuốc, nghĩa địa chung và hội quán làm việc thiện
Ngoài Sài Gòn – Chợ Lớn, cộng đồng người Hoa ở các tỉnh thường không đủ đông để lập bệnh viện. Thay vào đó, hội quán hoặc miếu chính của tỉnh gánh nhiều việc cùng lúc: thờ tự, họp bàn, giữ quỹ, mở phòng thuốc, lo nghĩa địa. Ở Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cần Thơ, Mỹ Tho, Hội An, mô hình này rất phổ biến.
Phòng thuốc bắc gắn với hội quán thường do một lương y trong cộng đồng đứng khám, thuốc do các tiệm thuốc bắc trong phố góp. Ở nhiều chợ quê miền Tây, đây từng là nơi khám bệnh gần nhất cho cả người Hoa, người Kinh, người Khmer khi chưa có trạm y tế.
Nghĩa địa ở tỉnh thường là nghĩa địa chung của mọi bang, có khu riêng cho từng nhóm hoặc từng họ. Cộng đồng lo việc phát quang, sửa mộ trước Thanh Minh, và cúng chung cho những ngôi mộ không còn người thăm. Nhiều nơi lễ cúng chung ấy đến nay vẫn còn, tổ chức tại hội quán hoặc ngay tại nghĩa địa.
Ở Hội An, các hội quán và nhà thờ tộc giữ vai trò tương tự, với quỹ chung lo giỗ chạp cho các vị tiền hiền và người không có con cháu. Ở Hà Tiên, việc lo mồ mả họ Mạc và các ngôi mộ cổ trên núi Bình San do cả cộng đồng địa phương cùng gánh.
Nghĩa trang của các bang và những lần di dời
Mỗi bang ở Chợ Lớn từng có nghĩa trang riêng ở vùng ven thành phố thời ấy. Mộ người Hoa thường có hình ghế bành, bia khắc tên chữ Hán, quê gốc huyện, xã, năm sinh năm mất theo âm lịch và tên con cháu đứng lập. Những thông tin này về sau trở thành nguồn quý cho con cháu tìm gốc.
Khi thành phố mở rộng, nhiều nghĩa trang cũ nằm lọt giữa khu dân cư và được giải toả. Hài cốt được con cháu cải táng về quê, đưa vào chùa, hoặc chuyển đến các nghĩa trang mới ở ngoại thành và các tỉnh lân cận. Những ngôi mộ không có người nhận thường được cộng đồng hoặc đơn vị quản lý gom lại, cải táng tập thể.
Hội quán và các hội đồng hương đóng vai trò lớn trong những lần di dời ấy: thông báo cho thân nhân, lo chi phí cho mộ vô chủ, lập bia chung. Ở nhiều chùa, miếu người Hoa còn có khu đặt hũ cốt và bài vị của người đã mất, nơi con cháu đến thắp hương dịp Thanh Minh.
Quỹ tương tế, thiện đường và phòng thuốc từ thiện
Quỹ hiếu hỉ. Hội viên đóng góp định kỳ; khi nhà ai có tang, có cưới, quỹ chi một khoản và ban trị sự đến thăm. Nhiều hội đồng hương, hội họ đến nay vẫn giữ nếp này, sổ sách ghi tay cẩn thận.
Thiện đường. Kiểu tổ chức từ thiện phổ biến của người Triều Châu, lo việc khâm liệm, mai táng cho người nghèo, phát gạo, cứu trợ khi thiên tai. Ở TP.HCM và miền Tây vẫn có những thiện đường hoạt động, thành viên là tình nguyện viên trong cộng đồng.
Phòng thuốc từ thiện. Nhiều hội quán, miếu mở phòng khám Đông y miễn phí vài buổi mỗi tuần, có lương y khám và phát thuốc bắc. Người đến khám không bị hỏi dân tộc hay tôn giáo; nhiều nơi người Kinh đến đông hơn người Hoa.
Học bổng. Quỹ của hội quán, hội họ trao học bổng cho học sinh nghèo, học sinh giỏi, nhiều quỹ trao cả cho học sinh không phải người Hoa sống trong phường. Lễ trao học bổng thường tổ chức đầu năm học ở sân hội quán.
Nhà dưỡng lão, nơi nương tựa. Một số cộng đồng từng lập nơi nuôi người già neo đơn, người không còn thân nhân. Quy mô nhỏ, nhưng thể hiện rõ tinh thần "người cùng quê lo cho nhau" đã có từ thế kỷ trước.
Con cháu đi tìm mộ phần tổ tiên: bắt đầu từ đâu
Nhiều gia đình gốc Hoa, nhất là những nhà đã định cư ở nước ngoài, muốn tìm lại mộ ông bà ở Việt Nam. Việc này thường khó vì nghĩa trang cũ đã di dời, tên trên giấy tờ Việt khác tên chữ Hán trên bia, và người lớn tuổi biết chuyện không còn.
Cách làm có hệ thống: trước hết gom mọi thông tin trong nhà, gồm tên chữ Hán của người đã mất, năm mất theo âm lịch, bang và hội quán gia đình từng sinh hoạt, nghĩa trang ban đầu nếu còn nhớ. Sau đó liên hệ hội quán của bang tương ứng, vì nhiều nơi còn giữ sổ cải táng, danh sách mộ đã di dời. Tiếp theo hỏi ban quản lý các nghĩa trang mới nơi hài cốt được chuyển tới.
Ví dụ giả định: một gia đình ở Úc biết bà cố mất ở Chợ Lớn khoảng năm 1960, chôn ở nghĩa trang bang Quảng Đông. Con cháu nhờ người quen ở TP.HCM đến hội quán Quảng Đông hỏi, được chỉ sang nơi lưu giữ sổ cải táng, rồi tìm thấy tên bà cố trong danh sách hũ cốt được đưa vào một ngôi chùa. Không phải trường hợp nào cũng có kết quả như vậy; nhiều mộ đã cải táng tập thể không còn ghi tên riêng.
Khi đi tìm, nên chụp ảnh mọi bia mộ, sổ sách liên quan, nhờ người đọc được chữ Hán đối chiếu. Cẩn trọng với người tự xưng có thể "tìm mộ nhanh" để nhận tiền; nên làm việc trực tiếp với hội quán, ban quản lý nghĩa trang và chùa.
Câu hỏi thường gặp
Bệnh viện Nguyễn Tri Phương có phải do người Hoa lập?
Theo lịch sử bệnh viện, tiền thân của Bệnh viện Nguyễn Tri Phương là bệnh viện do bang Quảng Đông ở Chợ Lớn lập đầu thế kỷ 20. Ngày nay đây là bệnh viện công lập của TP.HCM, phục vụ mọi người dân, chỉ còn giữ lịch sử thành lập như một phần di sản.
Thiện đường là gì?
Thiện đường là tổ chức từ thiện của cộng đồng, phổ biến nhất ở người Triều Châu, chuyên lo mai táng cho người nghèo, người vô thừa nhận, phát gạo, cứu trợ khi có thiên tai. Thành viên là tình nguyện viên, kinh phí từ đóng góp của cộng đồng.
Phòng khám từ thiện ở hội quán có khám cho người không phải người Hoa không?
Có. Các phòng khám Đông y từ thiện ở hội quán, miếu thường nhận mọi người đến khám, không hỏi dân tộc hay tôn giáo. Nên hỏi trước lịch khám vì mỗi nơi chỉ mở vài buổi trong tuần, và đây là phòng khám thuốc bắc, không thay cho bệnh viện khi bệnh nặng.
Mộ ông bà ở nghĩa trang người Hoa cũ đã di dời thì tìm thế nào?
Gom tên chữ Hán, năm mất âm lịch, bang của gia đình, rồi liên hệ hội quán của bang đó để hỏi sổ cải táng. Sau đó hỏi ban quản lý các nghĩa trang hoặc chùa nơi hài cốt được chuyển tới. Kết quả tuỳ vào việc sổ sách còn được giữ đến đâu.
Có thể đóng góp cho quỹ tương tế của hội quán không?
Được. Hầu hết hội quán và hội đồng hương nhận đóng góp tự nguyện cho quỹ học bổng, phòng thuốc, quỹ hiếu hỉ. Nên đến trực tiếp, gặp ban trị sự, nhận biên nhận và hỏi rõ khoản đóng góp dùng cho việc gì.
Vì sao mộ người Hoa thường có hình ghế bành?
Đây là kiểu mộ phổ biến ở vùng Hoa Nam, tường bao ôm lấy nấm mộ như hai tay ghế, phía trước là bia và sân nhỏ để con cháu đặt lễ. Kiểu mộ này theo người Hoa sang Việt Nam và các nước Đông Nam Á, trở thành dấu hiệu dễ nhận ra ở các nghĩa trang cũ.