Một cuốn gia phả người Hoa (族譜 tộc phả) thường gồm lời tựa kể nguồn gốc dòng họ, phần phàm lệ nói cách ghi chép, phả đồ vẽ các đời nối nhau, phần tiểu sử từng người theo thế hệ, gia huấn, và các ghi chép về từ đường, mộ phần, chữ lót theo đời. Đọc gia phả nên bắt đầu từ phả đồ để xác định mình thuộc nhánh nào, rồi mới đọc phần tiểu sử của những người trên nhánh đó.
Nhiều gia đình người Hoa ở Việt Nam chỉ giữ một bản chép tay mỏng, hoặc một trang trích từ cuốn phả lớn ở quê. Dù dày hay mỏng, cấu trúc và các chữ dùng khá giống nhau. Bài này đi qua từng phần, các chữ hay gặp và những điều gia phả thường không ghi, để người không rành chữ Hán vẫn biết mình đang cầm thứ gì trong tay.
Các phần thường có trong một cuốn tộc phả
Không phải cuốn nào cũng đủ, nhưng thứ tự dưới đây khá phổ biến trong các gia phả soạn theo lối truyền thống:
- Lời tựa (序). Do người soạn hoặc người tu sửa phả viết, kể dòng họ từ đâu, vì sao soạn hoặc sửa phả, năm nào. Phả được sửa nhiều lần thì có nhiều lời tựa xếp nối nhau.
- Phàm lệ (凡例). Quy ước ghi chép: ghi những ai, ghi con gái thế nào, người nhận nuôi ghi ra sao, dùng niên hiệu nào.
- Nguồn gốc (源流) và đường hiệu (堂號). Kể tổ xa của họ, quận gốc gắn với họ, như họ Lâm gắn với Tây Hà, họ Trần với Dĩnh Xuyên, họ Hoàng với Giang Hạ.
- Phả đồ (世系圖). Sơ đồ các đời, mỗi người một ô, đường kẻ nối cha với con.
- Thế hệ biểu, tiểu sử (世系表, 傳). Mỗi người một mục: tên, tự, năm sinh, năm mất, vợ, con, nơi chôn, đôi khi nghề nghiệp, việc làm đáng ghi.
- Chữ lót theo đời (字輩). Bài thơ hoặc dãy chữ quy định chữ lót cho từng đời.
- Gia huấn (家訓), từ đường, mộ phần, tộc sản. Lời dạy con cháu, mô tả nhà thờ họ, vị trí mộ tổ, ruộng đất chung của họ.
Với người tìm gốc, ba phần đáng đọc kỹ nhất là nguồn gốc (cho biết quê), phả đồ (cho biết nhánh) và tiểu sử của tổ đời đi xa (thường ghi rõ năm đi và nơi đến).
Đọc phả đồ: chiều nào, hàng nào
Gia phả truyền thống viết chữ theo hàng dọc, từ phải sang trái. Phả đồ cũng theo lối đó: đời trên ở phía trên, đời dưới ở phía dưới; anh em cùng đời xếp ngang, người lớn thường ở bên phải. Một trang phả đồ thường chứa khoảng năm đời, rồi trang sau tiếp tục từ người ở đời cuối của trang trước.
Lối chia năm đời một trang này hay được gắn với cách soạn phả của Âu Dương Tu đời Tống, còn lối ghi theo dòng, đi từ tổ xuống từng chi, gắn với cách của Tô Tuân. Gia phả về sau thường kết hợp cả hai. Người đọc không cần nhớ tên kiểu, chỉ cần biết: khi lật trang, hãy tìm lại tên người ở đời cuối trang trước để nối mạch.
Mỗi người trên phả đồ thường kèm số thứ tự đời, như 十五世 (đời thứ mười lăm), tính từ tổ khai họ hoặc từ tổ đến lập làng. Gia phả của nhánh đã sang Việt Nam có khi đánh số lại từ người đầu tiên sang, gọi là "thuỷ tổ" của nhánh. Khi so gia phả ở Việt Nam với gia phả ở quê, cần biết hai bên tính đời từ đâu, nếu không sẽ thấy lệch vài đời mà không hiểu vì sao.
Một chi tiết hay làm người mới đọc bối rối là cách gọi các nhánh. Gia phả lớn chia họ thành các phòng (房) hoặc chi (支), như trưởng phòng, nhị phòng, tam phòng, tương ứng với con cả, con thứ hai, con thứ ba của một vị tổ. Khi người già nói "nhà mình thuộc nhánh thứ ba", đó chính là chỗ để bắt đầu tìm trên phả đồ.
Với phả đồ chép tay của gia đình, đường nối hay bị mờ hoặc viết tắt. Khi phân vân ai là con ai, hãy tra mục tiểu sử, nơi thường ghi rõ "子 X, Y" (con trai là X, Y).
Những chữ hay gặp trong phần tiểu sử
Phần tiểu sử dùng một số chữ lặp đi lặp lại. Nhận ra chúng giúp đọc nhanh hơn nhiều, kể cả khi chưa đọc được toàn văn.
| Chữ Hán | Âm Hán Việt | Nghĩa trong gia phả |
|---|---|---|
| 諱 | huý | tên chính của người đã mất, đứng trước tên |
| 字 / 號 | tự / hiệu | tên chữ khi trưởng thành / tên hiệu |
| 生於 / 卒於 | sinh ư / tốt ư | sinh vào / mất vào (kèm năm tháng ngày) |
| 配 / 娶 | phối / thú | vợ chính; thường theo sau là họ vợ và chữ 氏 (thị) |
| 繼配 / 側室 | kế phối / trắc thất | vợ kế sau khi vợ trước mất / vợ thứ |
| 子 / 女 | tử / nữ | con trai / con gái |
| 嗣子 / 出繼 | tự tử / xuất kế | con nuôi để nối dõi / con đem cho nhánh khác làm con nối |
| 葬於 | táng ư | chôn tại (kèm tên núi, làng, nghĩa trang) |
| 往安南 / 往南洋 | vãng An Nam / vãng Nam Dương | đi sang Việt Nam / đi sang vùng Đông Nam Á |
Dòng có chữ 往 (vãng, đi đến) kèm tên một vùng đất xa là dòng người tìm gốc mong gặp nhất: đó thường là chỗ gia phả ở quê ghi lại người đã xuất dương, và cũng là điểm nối giữa phả ở quê với phả của nhánh ở nước ngoài.
Ngày tháng trong gia phả: niên hiệu, can chi và tháng âm lịch
Gia phả cũ ghi năm theo niên hiệu của triều vua kèm năm can chi, ví dụ "光緒十年甲申" là năm thứ mười niên hiệu Quang Tự, năm Giáp Thân, tức 1884. Muốn đổi sang dương lịch, cần một bảng niên hiệu (rất dễ tìm trong sách tra cứu) để biết năm đầu của mỗi niên hiệu, rồi cộng thêm số năm trừ một.
Từ năm 1912, nhiều gia phả chuyển sang ghi năm Dân Quốc, đếm từ 1912 là năm thứ nhất; gặp "民國二十年" thì cộng 1911, ra năm 1931. Gia phả soạn ở Việt Nam đôi khi lại ghi theo niên hiệu các vua nhà Nguyễn như Tự Đức, Thành Thái, hoặc ghi thẳng dương lịch. Cùng một cuốn phả có thể trộn nhiều cách ghi vì được viết tiếp qua nhiều đời.
Ngày tháng thường là âm lịch. Ngày mất ghi trong phả chính là ngày con cháu nhớ để làm giỗ, nên khi đổi sang dương lịch để lập bảng phả hệ, nên ghi cả hai. Năm can chi lặp lại sau 60 năm, vì vậy một năm "Giáp Thân" đứng một mình không đủ xác định; phải dựa vào niên hiệu, tuổi thọ, hoặc năm sinh của con cái để chốt đúng chu kỳ.
Những điều gia phả thường không ghi, hoặc ghi lệch
Con gái và dòng bên ngoại. Nhiều phả truyền thống chỉ ghi con gái bằng chữ 女 kèm tên chồng hoặc không ghi gì. Muốn biết các bà cô, bà dì, phải tìm trong phả của dòng họ bên chồng, hoặc hỏi người già.
Người đi xa không có tin. Phả ở quê hay chỉ ghi "đi Nam Dương, không rõ" rồi dừng. Nhánh ở nước ngoài thì lại không biết tên mình được ghi ở quê. Hai bản phả cần nhau để khép mạch.
Người không hợp chuẩn mực thời ấy. Con nuôi, con riêng, người bị loại khỏi họ vì lý do gia tộc, người mất sớm chưa có con, đôi khi bị lược bỏ hoặc ghi rất ngắn.
Tổ xa được "tô vẽ". Phần nguồn gốc kể tổ xa là danh nhân nghìn năm trước nên được đọc như truyền thống của họ, không phải chứng cứ lịch sử. Phần đáng tin là các đời gần, có năm tháng, mộ phần cụ thể.
Nhánh đã đổi tiếng, đổi nếp. Con cháu sinh ra ở nước ngoài vài đời có khi không còn đọc được chữ Hán, nên phần phả của họ dừng lại ở đời ông bà rồi chuyển sang ghi bằng tiếng Việt, tiếng Anh, hoặc không ghi nữa. Đoạn đứt này thường rơi đúng vào thế hệ đầu tiên học trường bản địa.
Lỗi chép tay. Mỗi lần chép lại là một lần có thể sai chữ, nhảy dòng, đảo năm. Khi hai bản chép lệch nhau, bản cũ hơn và bản có nhiều chi tiết cụ thể hơn thường đáng tin hơn.
Chuyển gia phả giấy thành bảng phả hệ dễ dùng
Một cuốn phả chữ Hán dọc rất khó cho con cháu đời nay tra cứu. Chuyển nó thành bảng phả hệ là cách để gia phả tiếp tục được dùng, không chỉ được cất. Có thể làm từng bước:
- Đánh số trang và chụp toàn bộ bản gốc trước khi làm bất cứ việc gì khác.
- Mỗi người trong phả thành một dòng trong bảng tính: số đời, tên chữ Hán, âm Hán Việt, tên tự, năm sinh, năm mất (ghi cả niên hiệu gốc và năm dương lịch), cha, mẹ, vợ chồng, nơi chôn, trang nguồn.
- Gán cho mỗi người một mã riêng, như đời và số thứ tự, để phân biệt những người trùng tên.
- Với các đời mới, thêm cột tên trên giấy tờ Việt Nam và nơi sống hiện nay, nhưng giữ phần này trong nội bộ gia đình.
- Nếu dùng phần mềm phả hệ, chọn loại xuất được tệp theo định dạng chung GEDCOM để sau này chuyển sang phần mềm khác không mất dữ liệu.
- In phả đồ rút gọn khổ lớn cho dịp họp họ; bản đầy đủ để trong máy và một bản in đóng tập.
Bảng phả hệ không thay thế bản gốc. Ghi trang nguồn ở mỗi dòng giúp người sau mở đúng trang để kiểm lại khi có nghi vấn.
Nhờ người đọc và giữ bản gốc
Người không đọc được chữ Hán có thể nhờ người lớn tuổi trong hội quán, thầy dạy Hoa văn, người nghiên cứu Hán Nôm, hoặc người thân ở Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Malaysia vốn quen đọc chữ phồn thể. Gia phả cũ hầu như luôn viết bằng chữ phồn thể, người chỉ quen giản thể vẫn đọc được phần lớn nhưng hay vấp ở chữ hiếm.
Khi nhờ đọc, nên chụp từng trang thật rõ, đánh số trang, và xin người đọc ghi bản phiên âm, bản dịch cạnh nguyên văn chữ Hán, không chỉ kể miệng. Một bản dịch có nguyên văn đi kèm thì người sau kiểm lại được; một bản dịch trơn thì không.
Bản gốc bằng giấy nên cất trong hộp kín, khô, không để trong túi ni lông bí hơi, không ép plastic. Không nên tháo chỉ khâu gáy để chụp cho phẳng. Bài về giữ ảnh, giấy tờ cũ trong danh mục này có hướng dẫn chi tiết hơn về bảo quản trong khí hậu nóng ẩm.
Câu hỏi thường gặp
Gia phả người Hoa viết bằng chữ giản thể hay phồn thể?
Gia phả cũ hầu như luôn viết bằng chữ phồn thể. Một số bản tu sửa gần đây ở quê có thể in bằng giản thể. Gia phả của các nhánh ở Việt Nam, Hồng Kông, Đài Loan, Đông Nam Á phần lớn vẫn dùng phồn thể.
Gia phả nhà mình chỉ có vài trang thì có đáng giữ không?
Rất đáng. Vài trang thường là phần trích về nhánh của gia đình, chép từ cuốn phả lớn ở quê hoặc do ông bà tự ghi. Nó có thể là mảnh duy nhất nối nhánh ở Việt Nam với dòng họ bên kia. Nên chụp, số hoá và cất bản gốc cẩn thận.
Đường hiệu trong gia phả có cho biết quê gốc không?
Không trực tiếp. Đường hiệu như Tây Hà của họ Lâm hay Dĩnh Xuyên của họ Trần chỉ quận gốc rất xa xưa của cả họ, dùng chung cho hầu hết người cùng họ. Quê gốc thật của nhánh nhà mình phải tìm ở phần ghi tổ đời gần và dòng quê quán.
Có nên tự viết tiếp gia phả cho các đời mới không?
Nên, và nên viết theo cấu trúc cũ để giữ mạch: tên chữ Hán, tên Việt, năm sinh mất, vợ chồng, con cái, nơi chôn. Có thể ghi thêm con gái và cháu ngoại, điều nhiều phả cũ bỏ sót. Ghi rõ người viết và năm viết ở phần đầu.
Gia phả ở quê và gia phả nhánh ở Việt Nam đánh số đời khác nhau thì làm sao?
Tìm một người xuất hiện ở cả hai phả, thường là tổ đời đi xa, rồi so số đời của người đó ở mỗi bên. Hiệu số chính là độ lệch; cộng hoặc trừ nó cho toàn nhánh là khớp. Ghi chú độ lệch này ngay trong bảng phả hệ.
Đọc gia phả có cần biết thêm chữ Nôm không?
Với gia phả người Hoa thì hầu như không cần. Chữ Nôm chỉ có thể xuất hiện ở các gia đình Minh Hương đã sống lâu ở Việt Nam, khi một vài tên đất hoặc tên người Việt được ghi bằng chữ Nôm. Gặp trường hợp đó, nhờ người nghiên cứu Hán Nôm đọc.