Kiều phê (僑批) là những lá thư kèm tiền mà người Hoa ở Đông Nam Á và các nước khác gửi về gia đình ở quê, chủ yếu vùng Triều Sán, Mân Nam, Ngũ Ấp, Hải Nam, từ giữa thế kỷ 19 đến nửa sau thế kỷ 20. Chữ "phê" trong tiếng Mân Nam và tiếng Triều Châu nghĩa là thư. Mỗi lá kiều phê thường có ba phần: phong bì, lá thư và khoản tiền, và người nhận gửi lại một lá thư trả lời gọi là hồi phê.
Năm 2013, bộ tư liệu kiều phê và chứng từ chuyển tiền của Hoa kiều được UNESCO đưa vào Chương trình Ký ức Thế giới. Bài này kể kiều phê đi đường nào, viết gì, có ý nghĩa gì với quê nhà, và nhà nào còn giữ thì nên giữ ra sao.
Từ thủy khách đến phê cục
Thời đầu, chưa có ngân hàng hay bưu điện phục vụ người đi làm thuê, việc gửi tiền về quê dựa vào những người gọi là thủy khách: người đi lại thường xuyên giữa quê và Nam Dương, quen biết đôi bên. Thủy khách nhận thư và tiền của người làm ở mỏ, ở bến cảng, mang về tận làng, lấy hồi âm mang ngược sang. Họ sống bằng tiền công của người gửi và đôi khi buôn thêm hàng.
Khi số người đi Nam Dương tăng, việc này được tổ chức lại thành các phê cục, tức tiệm chuyên nhận gửi thư kèm tiền, mở ở Singapore, Bangkok, Penang, Sài Gòn, Manila. Phê cục gom thư, chuyển tiền qua các tiệm đối tác ở Sán Đầu, Hạ Môn, Hồng Kông, rồi người đưa thư ở quê mang tận tay đến từng nhà, kể cả những làng xa đường lớn.
Mạng lưới này vận hành dựa trên chữ tín giữa người cùng quê. Phê cục thường do người cùng nhóm phương ngữ với khách lập ra, người đưa thư biết từng nhà, từng tên. Từ nửa sau thế kỷ 20, ngân hàng và dịch vụ chuyển tiền chính thức dần thay thế, và kiều phê khép lại như một tập quán của một thời.
Một lá kiều phê viết gì
Thư thường ngắn, viết bằng chữ Hán, có khi pha từ địa phương. Mở đầu là lời thưa gửi cha mẹ hoặc vợ, hỏi thăm sức khoẻ, báo mình vẫn bình an. Phần chính là khoản tiền gửi kèm và lời dặn chia tiền: phần biếu cha mẹ, phần cho vợ con, phần trả nợ, phần góp giỗ họ, phần nhờ mua ruộng, sửa nhà, lo việc cưới cho em.
Ví dụ giả định, một lá thư có thể như sau: "Kính thưa cha mẹ, con ở Xiêm vẫn bình an, năm nay làm ăn khá hơn. Gửi kèm khoản tiền này, xin chia một phần biếu cha mẹ, một phần đưa nhà con lo cho cháu đi học, một phần góp sửa mái từ đường. Cuối năm con chưa về được, mong cả nhà giữ gìn sức khoẻ." Những dòng như vậy, lặp đi lặp lại qua hàng chục năm, cho thấy một gia đình được nuôi bằng tiền gửi từ xa.
Nhiều người đi làm không biết chữ. Họ nhờ thầy viết thư ở phố, kể miệng để thầy viết; hồi phê từ quê cũng thường do người biết chữ trong làng viết hộ. Vì vậy văn phong kiều phê hay theo khuôn, có công thức mở đầu và kết thúc quen thuộc, nhưng chen giữa vẫn có những câu rất riêng: dặn vợ đừng làm quá sức, hỏi con đã biết đi chưa, kể mình bị ốm mà đã khoẻ.
Hồi phê: lá thư trả lời
Khi người đưa thư giao tiền, người nhận viết hoặc nhờ viết một lá hồi phê xác nhận đã nhận đủ, gửi ngược về cho người ở Nam Dương. Hồi phê vừa là biên nhận, vừa là thư nhà: kể chuyện mùa màng, chuyện cưới hỏi, ma chay trong họ, chuyện con cái học hành, và thường kèm lời nhắc khéo về khoản cần gửi lần sau.
Với người ở xa, hồi phê là sợi dây duy nhất nối với quê. Nhiều người giữ hồi phê suốt đời, có người dán vào sổ. Với nhà nghiên cứu, cặp kiều phê – hồi phê của cùng một gia đình qua nhiều năm cho phép dựng lại đời sống của cả hai phía: một người làm thuê ở Bangkok và một gia đình chờ tiền ở làng quê Triều Châu.
Cũng có những gia đình chỉ còn hồi phê, vì kiều phê bên quê đã thất lạc, hoặc ngược lại. Nếu nhà mình ở Việt Nam còn giữ hồi phê từ quê gửi sang, đó là dấu vết hiếm hoi cho biết tên làng, tên người thân và hoàn cảnh bên kia vào một năm cụ thể.
Tiền gửi về đã thay đổi quê nhà thế nào
Ở nhiều vùng như Triều Sán, Mân Nam, Ngũ Ấp, tiền kiều phê là nguồn sống chính của không ít gia đình. Có làng phần lớn nhà cửa được xây bằng tiền gửi về; có trường học, bệnh xá, đường làng, cầu đá do người đi xa góp tiền. Kiến trúc nhà ở những vùng này mang dấu ảnh hưởng Nam Dương: hành lang, cửa vòm, gạch hoa, những thứ người đi xa thấy ở Singapore, Penang rồi mang ý tưởng về.
Tiền gửi về cũng tạo ra một lớp gia đình sống phụ thuộc vào người ở xa, với những người vợ ở quê hàng chục năm chờ chồng, nuôi con, phụng dưỡng cha mẹ chồng. Nhiều lá hồi phê kể nỗi chờ đợi ấy rất rõ, và đó là một phần câu chuyện di cư ít được nhắc khi người ta chỉ nói đến thành công nơi đất khách.
Ở chiều ngược lại, nghĩa vụ gửi tiền về là gánh nặng với người đi làm. Có người làm nhiều năm mà không dám về vì chưa đủ tiền; có người vay thêm để gửi cho kịp Tết. Hiểu điều này giúp con cháu hôm nay nhìn ông bà mình với sự cảm thông hơn, thay vì chỉ thấy hình ảnh người đi xa giàu có.
Bộ tư liệu được UNESCO ghi danh năm 2013
Năm 2013, UNESCO đưa bộ tư liệu kiều phê và chứng từ chuyển tiền của Hoa kiều, do các cơ quan lưu trữ ở Quảng Đông và Phúc Kiến đề cử, vào danh mục Ký ức Thế giới. Bộ tư liệu gồm hàng chục vạn thư, phong bì, biên nhận, sổ sách của phê cục, trải dài khoảng một trăm năm.
Giá trị của bộ tư liệu không nằm ở từng lá thư riêng lẻ mà ở số lượng và độ liền mạch. Nhìn qua hàng nghìn lá thư, người ta thấy được dòng người đi, dòng tiền về, những năm mất mùa, những năm làm ăn khá, và nhịp sống của các gia đình có người ở xa. Đây là loại tư liệu "từ dưới lên", do chính người bình thường viết ra, khác với sử sách do quan lại biên soạn.
Ở Sán Đầu có một nhà trưng bày chuyên về kiều phê, và nhiều bảo tàng ở Singapore, Malaysia, Thái Lan cũng có góc trưng bày thư từ, tiền gửi của người Hoa. Các trường đại học trong vùng đã số hoá một phần tư liệu để nhà nghiên cứu và con cháu tra cứu.
Đọc phong bì: những gì ghi ở bên ngoài
Nhiều gia đình chỉ còn phong bì, lá thư bên trong đã thất lạc. Phong bì kiều phê vẫn chứa nhiều thông tin nếu biết đọc. Mặt trước thường ghi tên làng, tên người nhận theo lối kính cẩn, như "kính gửi mẫu thân đại nhân" kèm họ tên; bên cạnh là khoản tiền gửi kèm, ghi bằng chữ số kiểu Hán để khó sửa.
Mặt sau hoặc góc phong bì thường có dấu của phê cục bên gửi, dấu của tiệm nhận ở cảng quê, và số hiệu của lá thư trong sổ. Những dấu này cho biết thư đi qua những tay nào, từ thành phố nào. Một số phong bì còn in hình hoa lá, câu chúc may mắn, hoặc đóng dấu ngày tháng theo lịch âm.
Khi chụp ảnh và nhờ người đọc, nên đọc cả những chi tiết nhỏ này chứ không chỉ tên người. Tên phê cục có thể giúp xác định thành phố nơi ông bà từng sống; dấu tiệm ở quê giúp thu hẹp vùng quê gốc; số hiệu và ngày tháng giúp sắp xếp các lá thư theo thứ tự thời gian. Cách đọc chữ trên phong bì thường theo phương ngữ địa phương, nên người đọc giúp tốt nhất là người cùng nhóm tiếng với gia đình.
Kiều phê từ Việt Nam và những gì gia đình còn giữ
Người Hoa ở Việt Nam, nhất là người Triều Châu, Quảng Đông, Hải Nam ở Sài Gòn – Chợ Lớn và miền Tây, cũng từng gửi kiều phê về quê qua các phê cục ở Chợ Lớn, nối với Sán Đầu, Hồng Kông, Hải Khẩu. Vì vậy một số gia đình còn giữ hồi phê từ quê gửi sang, phong bì cũ, sổ ghi khoản gửi, hoặc ảnh chụp kèm thư.
Những giấy tờ này thường nằm lẫn trong rương, hộp bánh, sau bàn thờ, và dễ bị bỏ đi khi dọn nhà vì con cháu không đọc được. Trong khi đó, chúng có thể là nguồn duy nhất cho biết tên làng quê bên kia, tên người thân, và năm tháng cụ thể của gia đình. Với người đang tìm quê gốc, một lá hồi phê có tên làng giá trị hơn nhiều lời kể.
Người lớn tuổi trong nhà là chìa khoá để đọc những giấy tờ này: biết ai là ai, khoản tiền ấy để làm gì, vì sao năm đó không gửi. Nên hỏi và ghi lại sớm, vì phần chú giải trong trí nhớ người già quý không kém tờ giấy.
Giữ và đọc kiều phê, hồi phê trong nhà
Nếu gia đình còn thư từ cũ, có thể làm theo các bước sau để giữ được lâu và hiểu được nội dung, không cần đến dịch vụ nào.
- Gom tất cả thư, phong bì, sổ sách cũ về một chỗ, không gỡ tem, không bóc phong bì đã dán.
- Để giấy nằm phẳng trong bìa giấy không axit hoặc hộp giấy, tránh túi nhựa kín, tránh nơi ẩm, tránh nắng; không ép bằng băng dính.
- Chụp ảnh từng tờ cả hai mặt bằng điện thoại, ánh sáng đều, đặt thước bên cạnh để biết kích thước; lưu bản ảnh ở hai nơi.
- Đánh số và ghi chú: ai gửi, ai nhận, năm nào nếu đọc được, ai trong nhà còn nhớ chuyện liên quan.
- Nhờ người đọc được chữ Hán và hiểu phương ngữ của gia đình (Triều Châu, Quảng Đông…) đọc giúp, vì tên làng, tên người thường viết theo cách đọc địa phương.
- Thận trọng với lời đề nghị mua lại thư cũ; nếu muốn hiến tặng, nên giữ bản ảnh đầy đủ và hỏi rõ nơi nhận sẽ lưu giữ, cho tra cứu thế nào.
Danh mục họ tên, gia phả của trang có bài riêng về đọc gia phả, bài vị và tìm quê gốc, có thể đọc tiếp sau khi đã gom xong thư từ.
Câu hỏi thường gặp
Kiều phê là gì?
Kiều phê là thư kèm tiền mà người Hoa ở nước ngoài, chủ yếu ở Đông Nam Á, gửi về gia đình ở quê từ giữa thế kỷ 19 đến nửa sau thế kỷ 20. Chữ phê trong tiếng Mân Nam, Triều Châu nghĩa là thư. Mỗi lá gồm phong bì, thư và khoản tiền.
Hồi phê khác kiều phê thế nào?
Kiều phê là thư kèm tiền gửi từ nơi ở xa về quê. Hồi phê là thư trả lời của gia đình ở quê, xác nhận đã nhận tiền và kể chuyện nhà, gửi ngược sang cho người ở xa. Hai loại thư đi thành cặp và thường được giữ ở hai nơi khác nhau.
Thủy khách là ai?
Thủy khách là người đi lại thường xuyên giữa quê và Nam Dương, nhận mang thư và tiền giúp người đi làm, giao tận tay gia đình rồi mang hồi âm về. Họ là hình thức chuyển thư, chuyển tiền sớm nhất trước khi có các tiệm phê cục.
Kiều phê được UNESCO công nhận năm nào?
Năm 2013, bộ tư liệu kiều phê và chứng từ chuyển tiền của Hoa kiều do các cơ quan lưu trữ ở Quảng Đông và Phúc Kiến đề cử được đưa vào danh mục Ký ức Thế giới của UNESCO, gồm hàng chục vạn thư từ, biên nhận, sổ sách.
Người Hoa ở Việt Nam có gửi kiều phê không?
Có. Người Triều Châu, Quảng Đông, Hải Nam ở Sài Gòn – Chợ Lớn và miền Tây từng gửi thư kèm tiền về quê qua các tiệm ở Chợ Lớn, nối với Sán Đầu, Hồng Kông, Hải Khẩu. Một số gia đình còn giữ hồi phê và phong bì cũ.
Nhà còn thư cũ bằng chữ Hán thì nên làm gì?
Gom về một chỗ, để phẳng trong hộp giấy nơi khô ráo, chụp ảnh từng tờ hai mặt và lưu ở hai nơi. Sau đó nhờ người đọc được chữ Hán và phương ngữ của gia đình đọc giúp, ghi chú ai gửi, ai nhận, năm nào. Không nên bán vội cho người sưu tầm.