Một người gốc Hoa ở Việt Nam thường có ít nhất ba tên: tên chữ Hán do gia đình đặt, tên đọc theo âm Hán Việt ghi trên giấy tờ Việt Nam, và tên gọi ở nhà theo phương ngữ; nhiều người còn có thêm tên tiếng Anh, tên lúc nhỏ hay tên ghi trong gia phả theo chữ lót của đời mình. Các tên ấy không mâu thuẫn mà là những lớp khác nhau của cùng một con người, mỗi lớp dùng trong một môi trường.
Rắc rối chỉ đến khi cần nối các lớp lại: con cháu tìm tên ông bà trong gia phả mà chỉ biết tên trên căn cước, hồ sơ ở nước ngoài ghi một tên, giấy tờ trong nước ghi tên khác. Bài này giải thích từng lớp tên từ đâu mà có, những kiểu lệch hay gặp và cách lập một bảng đối chiếu tên cho cả gia đình. Các ví dụ là ví dụ giả định.
Các lớp tên của một người, từ lúc sinh ra
Tên lúc nhỏ (nhũ danh). Nhiều gia đình gọi con bằng một tên ngắn, thân mật trong những năm đầu, hay có chữ "A" (阿) đứng trước như A Phúc, A Muội. Tên này có khi theo người ta cả đời trong gia đình, dù không xuất hiện trên giấy tờ.
Tên chính thức bằng chữ Hán. Thường gồm họ, một chữ lót và một chữ tên. Chữ lót có thể là chữ theo đời trong họ; chữ tên do ông bà, cha mẹ chọn theo nghĩa. Đây là tên ghi trong gia phả, thiệp cưới, bài vị.
Tên trên giấy tờ Việt Nam. Là tên chữ Hán đọc theo âm Hán Việt và viết bằng chữ quốc ngữ, như 林美玲 thành Lâm Mỹ Linh. Có giấy tờ chèn thêm chữ "Văn" hoặc "Thị" vốn không có trong tên chữ Hán, do thói quen của người làm hồ sơ thời trước.
Tên gọi theo phương ngữ. Ở nhà, ở hội quán, trong giới buôn bán, người ta gọi nhau theo âm Quảng, Triều Châu, Phúc Kiến. Tên này nghe khác hẳn tên Hán Việt và đôi khi được viết ra chữ quốc ngữ theo kiểu phỏng âm.
Tên tiếng Anh hoặc tên ở nước ngoài. Người sang Mỹ, Úc, Canada thường thêm một tên riêng kiểu phương Tây đứng trước họ, còn tên Hán chuyển xuống thành tên đệm hoặc bỏ hẳn. Ở Hồng Kông, Singapore, Malaysia, nhiều người dùng song song tên tiếng Anh và tên phiên theo phương ngữ.
Từ chữ Hán sang tên Việt: những chỗ hay lệch
Âm Hán Việt là cầu nối chính giữa tên chữ Hán và giấy tờ Việt Nam, nhưng cây cầu này có mấy chỗ dễ trượt. Thứ nhất, một âm Hán Việt ứng với nhiều chữ: "Minh" có thể là 明 (sáng) hay 銘 (khắc ghi), "Huệ" có thể là 惠 hay 慧, "Hoa" có thể là 華 hay 花. Chỉ nhìn tên Việt thì không biết được chữ gốc.
Thứ hai, một chữ có thể đọc hai âm Hán Việt: 黃 là Hoàng hay Huỳnh, 武 là Vũ hay Võ, 姜 có nơi đọc Khương. Thứ ba, người làm giấy tờ đôi khi không biết chữ Hán mà ghi theo lời khai của gia đình, nên tên có thể bị ghi theo âm phương ngữ đã Việt hoá, hoặc nhầm một dấu thanh.
Thứ tư, thứ tự tên. Tên Hán và tên Việt cùng đặt họ trước, nên thường không lệch thứ tự; nhưng khi sang nước ngoài, họ bị chuyển ra sau, có khi tên đệm và tên bị dính liền, như "My Linh" thành "Mylinh", hoặc chữ lót bị bỏ hẳn. Ví dụ giả định: ông 黃家樂 có căn cước ghi Huỳnh Gia Lạc, hồ sơ di trú ở Úc ghi Ka Lok Wong theo âm Quảng, còn gia phả ở quê ghi đúng chữ Hán. Ba dạng ấy là một người, nhưng nếu không có bảng đối chiếu thì cháu chắt rất khó nhận ra.
Một ví dụ giả định: bảng tên của một gia đình ba đời
Cách tốt nhất để không lạc giữa các lớp tên là ghi chúng thành bảng ngay từ bây giờ, khi người trong nhà còn nhớ. Bảng dưới là mẫu cho một gia đình giả định gốc Quảng Đông ở TP.HCM có con cháu ở Úc.
| Người | Tên chữ Hán | Tên trên giấy tờ Việt Nam | Tên gọi ở nhà | Tên ở nước ngoài |
|---|---|---|---|---|
| Ông nội | 黃家樂 | Huỳnh Gia Lạc | A Lạc (âm Quảng gần "A Lok") | Không có |
| Bà nội | 梁秀英 | Lương Tú Anh | Bà Tú | Không có |
| Cha | 黃志明 | Huỳnh Chí Minh | A Minh | Chi Ming Wong |
| Cô | 黃慧珍 | Huỳnh Thị Huệ Trân | A Trân | Grace Wai Chun Wong |
| Con | 黃嘉豪 | Huỳnh Gia Hào | Bé Hào | Kevin Wong |
Để ý dòng của cô: giấy tờ Việt Nam có thêm chữ "Thị" không có trong tên chữ Hán, còn tên ở Úc giữ âm Quảng của tên Hán và thêm một tên tiếng Anh đứng trước. Những dòng như thế giải thích được rất nhiều câu hỏi về sau, kể cả khi làm giấy tờ chứng minh quan hệ.
Đặt tên con trong gia đình Hoa – Việt hôm nay
Nhiều cặp vợ chồng Hoa – Việt muốn con có một tên dùng được cả hai phía. Cách thường gặp là chọn tên chữ Hán trước, rồi lấy âm Hán Việt của nó làm tên khai sinh, như vậy tên trên giấy và tên trong gia phả khớp nhau từng chữ. Ông bà bên nội có thể yêu cầu dùng chữ lót theo đời của họ; khi đó chữ lót trong tên Việt cũng nên giữ đúng âm Hán Việt của chữ ấy.
Một số gia đình chọn tên thuần Việt cho giấy tờ và giữ tên chữ Hán riêng trong nhà. Cách này cũng ổn, chỉ cần ghi tên chữ Hán ở một nơi chắc chắn: một trang trong sổ gia đình, mặt sau giấy chứng sinh bản sao, một tờ có chữ ký cha mẹ. Hai mươi năm sau, khi đứa trẻ muốn biết tên Hán của mình, tờ giấy đó quý hơn mọi lời kể.
Với gia đình có kế hoạch sang sống ở nước ngoài, nên nghĩ trước cách viết tên Latin sẽ dùng và dùng nhất quán trên mọi giấy tờ. Tên Việt có dấu khi sang nước ngoài thường bị bỏ dấu, nên hai tên khác nhau như "Hào" và "Hảo" có thể thành một. Giữ tên chữ Hán bên cạnh sẽ giúp phân biệt khi cần.
Lập bảng đối chiếu tên cho cả nhà
Bảng đối chiếu tên là việc đơn giản nhất mà lợi nhất trong cả quá trình tìm gốc gác và làm giấy tờ. Có thể làm trên giấy hoặc bảng tính, theo các bước:
- Liệt kê mọi người trong ba hoặc bốn đời mà gia đình còn biết, kể cả người đã mất và người ở nước ngoài.
- Với mỗi người, ghi tên chữ Hán; nếu không ai nhớ, để trống và ghi "cần tìm", đừng tự đoán chữ.
- Ghi tên trên từng loại giấy tờ: khai sinh, căn cước, hộ chiếu, giấy tờ ở nước ngoài; mỗi dạng tên một cột.
- Ghi tên gọi ở nhà, nhũ danh, biệt danh trong hội quán, vì người lớn tuổi hay nhớ người khác theo những tên này.
- Ở mỗi ô, ghi nguồn: thấy trên giấy nào, ai kể, năm nào.
- Chụp các giấy tờ làm nguồn và lưu cùng bảng; bảng không có nguồn sẽ bị nghi ngờ khi cần dùng.
Khi tên trên giấy tờ lệch nhau và cần chỉnh lại cho khớp, thủ tục cải chính hay xác nhận tên do cơ quan hộ tịch giải quyết; danh mục giấy tờ của trang có bài riêng về nguyên lý. Bảng đối chiếu là hồ sơ gốc giúp làm việc đó dễ hơn.
Tên theo thứ bậc, theo nghề: cách người già nhớ người khác
Khi hỏi người lớn tuổi về họ hàng, câu trả lời ít khi là một cái tên chính thức. Người già trong gia đình người Hoa thường nhớ người khác theo thứ bậc trong nhà, như chú Ba, cô Tư, ông Hai, hay theo cách gọi phương ngữ của thứ bậc đó; nhiều khi chính họ cũng không biết tên chữ Hán của người được nhắc tới.
Một kiểu nhớ khác là gắn người với nghề hoặc chỗ ở: ông bán thuốc bắc ở đầu chợ, bà mở tiệm vải bên kia kênh, chú làm ở nhà máy xay lúa. Những cách gọi này nghe mơ hồ nhưng lại rất hữu ích, vì chúng gợi ra nơi để tìm tiếp: tiệm thuốc ấy thuộc hội quán nào, nhà máy ấy của ai, khu chợ ấy nay là phường nào.
Khi ghi lời kể, hãy chép đúng cách người già gọi, rồi hỏi thêm: người ấy là con ai, vợ người ấy họ gì, người ấy mất năm nào, chôn ở đâu. Từ những câu trả lời đó, đối chiếu với bia mộ và gia phả để tìm ra tên chính thức. Ví dụ giả định: bà nội chỉ nhớ "chú Năm làm thợ bạc ở Mỹ Tho"; khi đọc bia mộ ở nghĩa trang người Hoa tại đó, gia đình tìm thấy một người cùng họ, cùng chữ lót với ông nội, mất đúng khoảng năm bà kể. Cái tên chú Năm lúc ấy mới có chữ Hán đi kèm.
Khi tên trong gia phả và tên trên bia mộ không giống nhau
Người đi tìm gốc hay gặp cảnh này: gia phả ghi một tên, bia mộ ghi tên khác, bài vị lại ghi tên thứ ba. Nguyên nhân thường là các lớp tên kể trên được dùng ở những nơi khác nhau. Gia phả hay ghi tên theo chữ lót của đời, bia mộ ở Việt Nam đôi khi ghi tên quen gọi lúc sinh thời, còn bài vị có khi ghi thêm tên tự hoặc tên hiệu.
Người xưa có "danh" (tên chính) và "tự" (tên chữ dùng khi trưởng thành), một số người có thêm "hiệu". Trong cộng đồng di cư, tục đặt tên tự không còn phổ biến như trước, nhưng gia phả những dòng họ lâu đời vẫn ghi đủ. Khi đối chiếu, nên coi mọi tên là ứng viên và dựa vào các yếu tố khác để xác nhận: năm sinh, năm mất theo can chi, tên vợ, tên con, nơi chôn.
Một nguyên nhân nữa là người viết bia, viết bài vị thường là con cháu đời sau, có khi viết theo trí nhớ nhiều năm sau khi người đó mất, còn gia phả có thể được ghi lúc người ấy còn sống. Chữ trên bia vì vậy đôi khi là chữ đồng âm thay cho chữ gốc, nhất là khi người đặt bia không rành chữ Hán và nhờ thợ khắc chọn chữ. Gặp chữ lệch, hãy ghi cả hai dạng vào bảng đối chiếu, đánh dấu dạng nào lấy từ nguồn nào, và để các manh mối khác quyết định dạng nào là gốc.
Khi hai nguồn cùng ghi năm mất và tên vợ trùng nhau, gần như chắc chắn là một người. Khi chỉ có tên trùng, cần thận trọng, vì trong một họ đông người, hai người cùng đời mang cùng tên không phải chuyện hiếm.
Câu hỏi thường gặp
Tên Việt của người Hoa có phải lúc nào cũng là âm Hán Việt của tên chữ Hán không?
Phần lớn là vậy, nhưng không phải lúc nào cũng thế. Có người được đặt tên Việt riêng, có giấy tờ chèn thêm chữ Văn, Thị, có tên bị ghi theo âm phương ngữ đã Việt hoá. Muốn chắc chắn thì phải có tên chữ Hán viết tay hoặc in trên giấy tờ cũ.
Không ai trong nhà còn nhớ tên chữ Hán của ông bà thì tìm ở đâu?
Tìm trên bia mộ và bài vị trước, sau đó là thiệp cưới, cáo phó in báo, sổ đóng góp ở hội quán, giấy tờ cư trú thời trước, mặt sau ảnh cũ. Nếu đều không có, có thể hỏi những gia đình thân quen cùng hội quán, vì người lớn tuổi thường nhớ tên nhau theo chữ Hán.
Chữ A đứng trước tên người Hoa có nghĩa gì?
Chữ 阿 (A) là tiền tố thân mật, giống cách gọi "anh", "bé" trong tiếng Việt, thường dùng với tên một âm tiết như A Minh, A Phúc. Nó không phải là một phần của tên chính thức, nên khi đối chiếu giấy tờ, cần bỏ chữ A đi.
Có nên đặt tên con theo chữ lót đời của dòng họ không?
Đó là chuyện của từng gia đình. Dùng chữ lót giúp con cháu sau này nhận họ dễ hơn và giữ được nếp của dòng họ. Nếu dùng, nên ghi rõ chữ Hán và nguồn của bài thơ phân đời vào sổ gia đình để lớp sau còn tiếp tục.
Tên tiếng Anh của người Hoa ở Hồng Kông, Singapore có ghi trong giấy tờ không?
Tuỳ nơi và tuỳ người. Ở Hồng Kông, Singapore, Malaysia, nhiều người có tên tiếng Anh đứng cạnh tên phiên theo phương ngữ trên giấy tờ, nhưng cũng có người chỉ dùng tên tiếng Anh trong giao tiếp. Khi tìm họ hàng, nên hỏi cả hai dạng.
Tên trên các giấy tờ lệch nhau thì có ảnh hưởng khi làm thủ tục không?
Có thể ảnh hưởng khi cần chứng minh hai giấy tờ là của một người hoặc chứng minh quan hệ cha con, ông cháu. Bảng đối chiếu tên có nguồn rõ ràng giúp giải thích, nhưng việc công nhận hay chỉnh sửa do cơ quan hộ tịch hoặc cơ quan di trú quyết định theo quy định hiện hành.