Thương nhân và người Hoa qua lại đất Việt từ rất sớm, nhưng những cộng đồng người Hoa định cư lâu dài, có phố riêng, hội quán riêng và con cháu còn sống đến hôm nay chủ yếu hình thành từ thế kỷ 16–17. Đó là thời các phố cảng Hội An, Phố Hiến, Thanh Hà nhộn nhịp thuyền buồm; tiếp theo là nhóm di thần nhà Minh vào Nam năm 1679, họ Mạc lập đất Hà Tiên, rồi những chuyến tàu thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20 đưa người Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hẹ, Hải Nam sang làm ăn.
Theo Tổng điều tra dân số năm 2019, dân tộc Hoa ở Việt Nam có khoảng 750 nghìn người, khoảng một nửa sống ở TP.HCM. Bài này đi qua từng làn sóng theo thứ tự thời gian: ai đến, đến bằng đường nào, dừng chân ở đâu và để lại dấu vết gì mà người đọc hôm nay còn tìm thấy được.
Trước thế kỷ 16: qua lại nhiều, định cư rải rác
Con đường biển nối miền duyên hải Phúc Kiến, Quảng Đông với bờ biển Đông Nam Á đã có thương thuyền qua lại từ nhiều thế kỷ trước. Các thương cảng như Vân Đồn ở vùng biển Quảng Ninh thời Lý – Trần, chợ phiên ở kinh thành Thăng Long hay các cửa biển Chăm Pa đều từng đón thuyền buôn từ phương Bắc ghé vào mua trầm hương, sừng tê, quế, tơ lụa và bán đồ gốm, đồ đồng, thuốc bắc.
Tuy vậy, phần lớn những người này là khách buôn theo mùa. Họ đến khi gió thuận, ở lại vài tháng để bán hết hàng, rồi quay về khi gió đổi chiều. Có người lấy vợ bản xứ, có người ở lại hẳn, nhưng ở giai đoạn này họ thường hoà vào cư dân địa phương sau một hai đời, ít để lại một cộng đồng có tên gọi, có tổ chức riêng mà sử sách ghi chép liền mạch.
Vì thế khi các nhà nghiên cứu nói về "lịch sử người Hoa ở Việt Nam" theo nghĩa một cộng đồng, họ thường lấy mốc từ cuối thế kỷ 16 trở đi, khi các phố cảng mọc lên và người Hoa bắt đầu có khu cư trú riêng được chính quyền sở tại công nhận. Câu hỏi "người Hoa đến Việt Nam từ khi nào" do đó có hai câu trả lời: người qua lại thì rất sớm, còn cộng đồng định cư có dấu vết liền mạch thì khoảng bốn trăm năm.
Năm làn sóng chính trong một bảng
Bảng dưới đây gom các làn sóng theo thời gian. Mốc năm chỉ ghi khi sử liệu khá thống nhất; các giai đoạn còn lại ghi theo thế kỷ.
| Thời gian | Ai đến | Dừng chân chính | Dấu vết còn thấy |
|---|---|---|---|
| Cuối thế kỷ 16 – thế kỷ 17 | Thương nhân thuyền buồm Phúc Kiến, Quảng Đông | Hội An, Phố Hiến, Thanh Hà (Huế) | Hội quán, phố nhà ống, làng Minh Hương |
| Năm 1679 | Nhóm Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên cùng gia quyến | Mỹ Tho (nay thuộc Đồng Tháp), Cù lao Phố – Biên Hoà (nay thuộc Đồng Nai) | Đình thờ, miếu cổ, tên đất "đại phố" |
| Cuối thế kỷ 17 – thế kỷ 18 | Mạc Cửu từ Lôi Châu và người theo ông | Hà Tiên (nay thuộc An Giang) | Lăng họ Mạc, thơ văn Chiêu Anh Các |
| Thế kỷ 19 – nửa đầu thế kỷ 20 | Người làm thuê, buôn bán từ năm nhóm phương ngữ | Chợ Lớn, Hải Phòng, Nam Bộ, các đô thị | Bang hội, trường Hoa, phố buôn |
| Nửa sau thế kỷ 20 đến nay | Con cháu tái di cư; người mới đến làm việc, đầu tư | Mỹ, Úc, Pháp, Canada; các khu công nghiệp trong nước | Cộng đồng Hoa gốc Việt ở nước ngoài |
Năm làn sóng này không tách rời nhau. Người đến sau thường tìm về chỗ người cùng quê đã đến trước, nên một phố người Hoa có thể mang dấu của ba bốn đợt khác nhau chồng lên nhau, như Hội An hay Chợ Lớn.
Thế kỷ 16–17: phố cảng và người ở lại chờ gió
Cuối thế kỷ 16, khi xứ Đàng Trong của các chúa Nguyễn mở cửa buôn bán, Hội An trở thành nơi hẹn của thuyền Trung Hoa, Nhật Bản, rồi thuyền phương Tây. Thuyền buồm từ Phúc Kiến, Quảng Đông xuôi theo gió mùa đông bắc vào khoảng tháng Chạp, tháng Giêng, ở lại họp chợ suốt mùa xuân và đợi gió mùa tây nam đầu hè để về. Những người ở lại giữ hàng, giữ kho trong lúc chờ mùa sau dần dựng nhà, lấy vợ, lập phố.
Ngoài Bắc, Phố Hiến bên sông Hồng (nay thuộc Hưng Yên) cũng có khu người Hoa bên cạnh thương điếm của người Hà Lan, người Anh trong thế kỷ 17; câu "Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến" phản ánh độ sầm uất ấy. Ở Thanh Hà gần Huế, người Hoa buôn bán ven sông Hương tụ thành phố chợ phục vụ kinh thành của chúa Nguyễn.
Con cháu những người ở lại, mang dòng máu Hoa lẫn Việt, về sau được ghi trong sổ sách với tên Minh Hương, tức những người giữ hương hoả nhà Minh. Làng Minh Hương ở Hội An và các xã Minh Hương ở Nam Bộ là dấu vết rõ nhất của lớp người này. Bài riêng trong danh mục sẽ đi sâu vào từng phố cảng.
Năm 1679 và họ Mạc: người Hoa trong buổi đầu khai phá Nam Bộ
Sau khi nhà Minh mất năm 1644, một số tướng lĩnh, quan lại không theo triều mới đã đem gia quyến và binh lính vượt biển về phương Nam. Năm 1679, nhóm của Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên với hơn ba nghìn người và khoảng năm chục chiếc thuyền đến xin nương nhờ chúa Nguyễn Phúc Tần. Chúa cho họ vào vùng đất phía nam, khi ấy còn thưa người Việt: nhóm Dương Ngạn Địch dừng ở Mỹ Tho, nhóm Trần Thượng Xuyên dừng ở Bàn Lân, Biên Hoà.
Chỉ trong vài chục năm, hai nơi này có phố chợ đông đúc. Cù lao Phố trên sông Đồng Nai được sách xưa gọi là Nông Nại đại phố, có phố lát đá, nhà ngói, thuyền buôn từ nhiều nước ghé vào; Mỹ Tho cũng có đại phố bên sông Tiền. Đình Tân Lân ở Biên Hoà ngày nay còn thờ Trần Thượng Xuyên.
Cùng khoảng thời gian đó, Mạc Cửu, người Lôi Châu (Quảng Đông), đến vùng ven vịnh Thái Lan, mở mang thương cảng Hà Tiên rồi năm 1708 xin thần thuộc chúa Nguyễn. Con ông là Mạc Thiên Tứ lập nhóm văn thơ Chiêu Anh Các, để lại tập thơ vịnh mười cảnh Hà Tiên. Hai câu chuyện này cho thấy người Hoa có mặt ngay trong buổi đầu hình thành các đô thị Nam Bộ, không phải lớp người đến sau khi phố xá đã thành.
Thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20: tàu buôn, bang hội và năm nhóm phương ngữ
Từ giữa thế kỷ 19, tàu hơi nước nối Hồng Kông, Sán Đầu, Hạ Môn, Hải Khẩu với Sài Gòn, Hải Phòng, Bangkok, Singapore. Đường đi ngắn hơn, rẻ hơn, nên số người sang làm ăn tăng mạnh so với thời thuyền buồm. Phần lớn là đàn ông trẻ, đi theo chú bác, người làng đã sang trước, làm công trong xay lúa, khuân vác, buôn bán, thủ công; có người dành dụm rồi đón vợ con sang, có người làm vài năm rồi về quê.
Ở Nam Kỳ, người Hoa được tổ chức theo bang, mỗi bang ứng với một nhóm phương ngữ: Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hẹ (Khách Gia) và Hải Nam. Mỗi bang có bang trưởng đứng ra lo việc chung, có hội quán để họp và thờ tự, có trường dạy chữ, có nghĩa trang riêng. Mỗi nhóm cũng có nghề quen và vùng quen: người Triều Châu đông ở miền Tây, nhất là Sóc Trăng, Bạc Liêu cũ; người Hẹ làm gốm, làm đồ gỗ ở Biên Hoà, Thủ Dầu Một cũ; người Hải Nam có mặt ở Phú Quốc và trong nghề nấu ăn, quán nước.
Chợ Lớn thành trung tâm của người Hoa toàn Nam Bộ trong giai đoạn này, nơi gom lúa gạo từ miền Tây về xay xát rồi xuất khẩu. Ngoài Bắc, Hải Phòng, Hà Nội và vùng Móng Cái (Quảng Ninh) có các cộng đồng người Hoa riêng, trong đó có nhóm người Ngái ở vùng ven biển đông bắc.
Nửa sau thế kỷ 20 và hôm nay: đi tiếp và trở lại
Sang nửa sau thế kỷ 20, chiều di cư có thêm hướng mới. Nhiều gia đình người Hoa từ Việt Nam đã định cư ở Mỹ, Úc, Pháp, Canada; ở các nước ấy họ thường được gọi là người Hoa gốc Việt, nói được tiếng Quảng hay tiếng Triều Châu, tiếng Việt và thêm ngôn ngữ nơi ở mới. Các phố như Cabramatta ở Sydney hay khu quận 13 ở Paris mang rõ dấu của lớp người này.
Trong nước, cộng đồng người Hoa là một trong 54 dân tộc, sống tập trung ở TP.HCM, Đồng Nai, Cần Thơ, Cà Mau, An Giang và một số tỉnh phía Bắc. Hội quán vẫn mở cửa, nhiều trường dạy tiếng Hoa vẫn có lớp, các đội lân vẫn ra đường dịp Tết Nguyên Tiêu. Thế hệ trẻ nói tiếng Việt là chính, nhiều người học lại tiếng của ông bà.
Từ những năm 1990 trở lại đây còn có lớp người mới: chuyên gia, kỹ sư, chủ doanh nghiệp từ Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Malaysia và Trung Quốc đại lục sang làm việc, đầu tư ở các khu công nghiệp. Lớp người này khác hẳn những đợt trước: họ đi lại giữa hai nơi, ít khi lập phố riêng, và quan hệ với cộng đồng người Hoa sở tại tuỳ từng người.
Muốn lần lại gia đình mình thuộc làn sóng nào
Hỏi ông bà nói tiếng gì ở nhà. Tiếng Quảng, Triều Châu, Phúc Kiến, Hẹ hay Hải Nam là manh mối đầu tiên về vùng quê gốc và thời điểm đến. Nhiều gia đình Triều Châu ở miền Tây đã ở đó bốn năm đời; nhiều gia đình nói tiếng Quảng ở Chợ Lớn đến vào đầu thế kỷ 20.
Xem bài vị và bia mộ. Bài vị, bia mộ thường ghi tên làng, tên vùng ở quê bên kia bằng chữ Hán. Một dòng như "Quảng Đông, Triều Châu phủ" hay "Phúc Kiến, Tuyền Châu" đủ để thu hẹp vùng tìm kiếm.
Tìm hội quán của bang mình. Hội quán còn giữ sổ hội viên, danh sách người đóng góp trùng tu, bia ghi công. Người lớn tuổi ở hội quán thường nhớ các họ lớn trong bang và vùng quê của họ.
Ghi lại câu chuyện trước khi mất. Câu chuyện "ông cố đi tàu từ Sán Đầu", "bà nội theo chồng sang năm mười bảy tuổi" chỉ còn trong trí nhớ người già. Ghi âm, chụp ảnh giấy tờ cũ là việc nên làm sớm.
Đừng vội gán một mốc cho cả họ. Một dòng họ có thể có người đến từ thế kỷ 18 và người đến năm 1930. Danh mục họ tên, gia phả của trang có bài riêng hướng dẫn đọc gia phả và tìm quê gốc.
Câu hỏi thường gặp
Người Hoa có mặt ở Việt Nam sớm nhất từ khi nào?
Người Hoa qua lại buôn bán trên đất Việt từ rất sớm qua các thương cảng ven biển và kinh thành. Còn cộng đồng định cư có phố, có hội quán và có dấu vết liền mạch đến nay thì hình thành chủ yếu từ cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17 ở các phố cảng như Hội An, Phố Hiến.
Vì sao người Hoa ở Nam Bộ đông hơn ở miền Bắc?
Nam Bộ là vùng đất mới khai phá từ thế kỷ 17–18, có lúa gạo dồi dào và các cảng sông thuận tiện, nên thu hút cả nhóm di thần năm 1679, họ Mạc ở Hà Tiên lẫn những lớp người làm ăn thế kỷ 19. Chợ Lớn trở thành trung tâm buôn gạo, kéo theo nhiều người đến sau.
Người Minh Hương và người Hoa khác nhau thế nào?
Minh Hương là tên gọi con cháu những người Hoa đến từ thế kỷ 17–18, phần lớn lai Việt và sớm vào sổ bộ địa phương như cư dân bản xứ. Người Hoa đến sau trong thế kỷ 19–20 thường được tổ chức theo bang. Danh mục Hoa kiều là ai của trang có bài phân biệt kỹ các tên gọi này.
Năm nhóm phương ngữ người Hoa ở Việt Nam gồm những nhóm nào?
Đó là Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hẹ (còn gọi Khách Gia) và Hải Nam. Mỗi nhóm đến từ một vùng quê khác nhau ở miền nam Trung Hoa, nói tiếng khác nhau và thời trước được tổ chức thành một bang riêng có hội quán, trường học, nghĩa trang.
Hiện nay người Hoa ở Việt Nam có bao nhiêu người?
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, dân tộc Hoa có khoảng 750 nghìn người, khoảng một nửa sống ở TP.HCM. Con số này chỉ tính người khai dân tộc Hoa; nhiều người có ông bà gốc Hoa nhưng khai dân tộc Kinh nên không nằm trong đó.
Làm sao biết gia đình mình đến Việt Nam vào đợt nào?
Bắt đầu từ tiếng nói ở nhà, tên quê ghi trên bài vị và bia mộ, rồi hỏi hội quán của bang tương ứng. Kết hợp ba nguồn đó thường đủ để đoán gia đình đến vào thế kỷ 18, thế kỷ 19 hay đầu thế kỷ 20, dù hiếm khi xác định được đúng năm.