Năm 1679, hơn ba nghìn người Hoa cùng khoảng năm chục chiếc thuyền, do Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên dẫn đầu, đến xin nương nhờ chúa Nguyễn và được cho vào vùng đất phía nam. Nhóm Trần Thượng Xuyên dừng ở Bàn Lân, Biên Hoà (nay thuộc Đồng Nai), dựng nên Nông Nại đại phố trên Cù lao Phố; nhóm Dương Ngạn Địch dừng ở Mỹ Tho (nay thuộc Đồng Tháp), dựng nên Mỹ Tho đại phố.
Đây là một trong những mốc được sử sách nhà Nguyễn ghi khá rõ về người Hoa ở Nam Bộ, và cũng là lý do nhiều gia đình người Hoa, người Minh Hương ở Đồng Nai, Đồng Tháp hôm nay nhận gốc gác từ thế kỷ 17. Bài kể lại họ là ai, vì sao đến, đã làm gì trong vài chục năm đầu và những dấu vết còn lại để người đọc tự đi xem.
Họ là ai và vì sao rời quê
Theo các bộ sử của triều Nguyễn như Đại Nam thực lục và Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, người dẫn đầu nhóm thứ nhất là Dương Ngạn Địch, tổng binh trấn thủ đất Long Môn, cùng phó tướng Hoàng Tiến. Nhóm thứ hai do Trần Thượng Xuyên, tổng binh ba châu Cao, Lôi, Liêm ở miền ven biển Quảng Đông, cùng phó tướng Trần An Bình dẫn đầu.
Họ là quan lại, tướng lĩnh của nhà Minh. Sau khi nhà Minh mất năm 1644, nhiều quan lại ở các vùng ven biển phía nam không theo triều mới và vẫn ở lại quê thêm vài chục năm. Đến cuối thập niên 1670, khi không còn chỗ đứng ở quê, nhiều người trong số họ chọn vượt biển sang các nước phương Nam cùng gia quyến, người theo và người làm.
Điều đáng chú ý là thành phần của đoàn: không chỉ người cầm quân mà còn vợ con, người hầu, thợ thủ công, người buôn bán đi theo. Nhờ vậy khi được cho ở lại, họ có đủ người để lập phố, mở chợ, làm nghề, chứ không phải một đạo quân đóng trại tạm. Sử sách ghi đoàn có hơn ba nghìn người; con số này có thể làm tròn, nhưng cho thấy quy mô đủ để dựng hai đô thị.
Đến cửa Tư Dung và lời xin nương nhờ
Đoàn thuyền cập cửa Tư Dung (gần cửa Thuận An, Huế ngày nay) và cửa Đà Nẵng, rồi dâng thư lên chúa Nguyễn Phúc Tần ở Phú Xuân xin được ở lại làm dân. Theo Đại Nam thực lục, triều đình bàn rằng đất Đông Phố phía nam còn rộng, ruộng đất màu mỡ, có thể cho người mới đến vào khai khẩn; nhà chúa vừa có thêm dân, vừa có thêm người mở mang buôn bán ở vùng đất mới.
Chúa Nguyễn ban yến tiệc khao đoàn, phong chức cho những người cầm đầu, rồi cho đoàn đi tiếp vào Nam. Lúc ấy vùng Đồng Nai – Gia Định đã có lưu dân người Việt đến khai hoang lẻ tẻ, có cư dân Khmer sinh sống từ lâu, nhưng chưa có đô thị đáng kể.
Hai nhóm tách đường từ đây. Nhóm Dương Ngạn Địch theo cửa Soài Rạp và cửa Tiểu vào sông Tiền, dừng ở vùng Mỹ Tho. Nhóm Trần Thượng Xuyên theo cửa Cần Giờ ngược sông Đồng Nai lên Bàn Lân. Cả hai đều chọn chỗ bên sông lớn, nơi thuyền buôn đi lại dễ, đất cao ráo để dựng nhà. Cách chọn đất ấy cho thấy ngay từ đầu, họ tính chuyện buôn bán chứ không chỉ cày cấy.
Nông Nại đại phố trên Cù lao Phố
Cù lao Phố là một cù lao giữa sông Đồng Nai, nằm ngay khu vực Biên Hoà. Nhóm Trần Thượng Xuyên khai phá vùng này, dựng phố chợ, mời thương nhân các nơi tới. Trong vài chục năm, nơi đây thành thương cảng lớn nhất vùng, sách xưa gọi là Nông Nại đại phố hoặc Đông Phố.
Gia Định thành thông chí tả phố có ngói đỏ tường vôi, lầu cao bên sông, đường phố lát đá trắng dài nhiều dặm, chia ba dãy phố, có phố riêng của người buôn các nơi. Thuyền buôn từ Quảng Đông, Phúc Kiến, Nhật Bản, Mã Lai và cả thuyền phương Tây ghé vào; hàng mua đi là gạo, gỗ, đường, cau, cá khô, sáp ong; hàng bán vào là tơ lụa, đồ gốm, thuốc bắc, đồ sắt.
Ngôi miếu cổ nhất còn lại trên cù lao là Thất Phủ cổ miếu, người địa phương quen gọi Chùa Ông, tương truyền dựng năm 1684 để thờ Quan Công, là nơi họp của bảy phủ người Hoa ở Biên Hoà thời trước. Đình Tân Lân ở trung tâm Biên Hoà thờ Trần Thượng Xuyên như một vị tiền hiền có công khai mở đất này. Hai công trình đều là di tích được nhiều người địa phương biết.
Mỹ Tho đại phố bên sông Tiền
Nhóm Dương Ngạn Địch dừng ở vùng Mỹ Tho, nơi sông Tiền rộng và có rạch nhỏ đâm sâu vào ruộng. Họ khai hoang, lập vườn, dựng phố chợ, và chẳng bao lâu Mỹ Tho có một khu phố buôn đông đúc mà sử sách gọi là Mỹ Tho đại phố. Lúa gạo vùng đồng bằng sông Tiền được gom về đây rồi chở đi Gia Định, Phú Xuân và xa hơn.
Lịch sử của nhóm Mỹ Tho không suôn sẻ như Cù lao Phố. Sử chép Dương Ngạn Địch qua đời sau vài năm, nội bộ nhóm có tranh giành, và phần lớn người theo ông về sau tản ra nhiều nơi ở đồng bằng. Dù vậy, phố chợ Mỹ Tho vẫn tiếp tục lớn lên, trở thành một trong những đô thị chính của miền Tây trong thế kỷ 18–19.
Dấu vết thời Dương Ngạn Địch ở Mỹ Tho ít hơn ở Biên Hoà, một phần vì phố đã xây lại nhiều lần. Người tìm hiểu thường phải dựa vào sử liệu và các đình, miếu của người Hoa ven sông Tiền. Khi đi, nên hỏi ban quản lý các hội quán, đình miếu trong vùng về bia trùng tu và tên những người đóng góp ngày trước, vì đó là nguồn có thể lần lại được các họ đã ở đây lâu đời.
Từ phố chợ đến làng xã: xã Thanh Hà và xã Minh Hương
Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn cử vào kinh lược, lập phủ Gia Định với hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn. Theo Gia Định thành thông chí, người Hoa ở Trấn Biên được lập thành xã Thanh Hà, người Hoa ở Phiên Trấn được lập thành xã Minh Hương, đều được ghi vào sổ bộ như dân của vùng.
Việc lập xã có ý nghĩa lớn với đời sống của họ: có tên trong sổ, có ruộng đất, có trách nhiệm thuế, có quyền dự thi cử. Con cháu lai Việt dần dần hoà vào cư dân địa phương, nói tiếng Việt, mặc áo Việt, nhưng giữ bàn thờ tổ và nhiều phong tục từ quê nội. Đây là lớp người Minh Hương mà về sau trở thành quan lại, văn nhân, như chính Trịnh Hoài Đức người viết Gia Định thành thông chí.
Cách nhà Nguyễn đưa người Hoa đến sớm vào hệ thống làng xã khác với cách các chính quyền thuộc địa ở Malacca hay Batavia quản lý qua một Kapitan đứng ngoài. Đó là lý do lớp Minh Hương ở Nam Bộ hoà nhập sâu đến mức nhiều gia đình hôm nay khai dân tộc Kinh, chỉ còn nhận ra gốc Hoa qua gia phả, bài vị hay tên họ.
Cù lao Phố suy và dòng người dời về Chợ Lớn
Nông Nại đại phố thịnh vượng gần một thế kỷ. Đến những năm 1770, vùng Đồng Nai trải qua nhiều biến động, phố chợ trên cù lao bị phá huỷ nặng nề và suy tàn. Nhiều thương hộ người Hoa rời cù lao, xuôi về vùng Sài Gòn, góp phần dựng nên khu phố buôn mà về sau thành Chợ Lớn.
Mỹ Tho tiếp tục là đô thị quan trọng, nhưng vai trò trung tâm buôn bán của cả vùng chuyển dần về Chợ Lớn, nơi có kênh rạch nối thẳng với các vùng lúa miền Tây. Có thể hình dung dòng chảy ấy như một sợi chỉ: người của nhóm năm 1679 dựng phố ở hai đầu, con cháu họ cùng những người đến sau lại dựng tiếp phố mới ở giữa.
Câu chuyện này giải thích vì sao trong nhiều gia đình người Hoa và Minh Hương lâu đời ở TP.HCM, ông bà còn kể "tổ tiên ở Biên Hoà xuống". Nó cũng nhắc người đọc rằng các phố người Hoa không bất biến: phố có thể lên, có thể tàn, và cộng đồng thì dời theo dòng buôn bán.
Sử liệu nói gì và chỗ còn để ngỏ
Phần lớn hiểu biết về nhóm năm 1679 đến từ sử liệu do triều Nguyễn biên soạn hơn một trăm năm sau sự kiện. Gia Định thành thông chí hoàn thành đầu thế kỷ 19, Đại Nam thực lục còn muộn hơn. Những bộ sách này chép lại từ văn bản cũ và lời kể, nên các con số như "hơn ba nghìn người", "năm mươi chiếc thuyền" nên hiểu là con số tròn theo cách ghi chép thời ấy.
Một số chi tiết còn được giới nghiên cứu bàn tiếp: ngày giờ cụ thể đoàn thuyền cập bến, chức vị chính xác của từng người ở quê, quy mô thật của Nông Nại đại phố, hay đường đi cụ thể của nhóm Mỹ Tho. Khảo cổ học ở Cù lao Phố và các vùng lân cận từng tìm thấy mảnh gốm, nền móng cũ, góp thêm chứng cứ cho hình ảnh một thương cảng đông đúc, nhưng chưa đủ để vẽ lại toàn bộ phố xưa.
Với người đọc phổ thông, cách an toàn là giữ các mốc chắc như năm 1679, năm 1698 lập phủ Gia Định, tên hai người cầm đầu và hai nơi dừng chân, còn các chi tiết đẹp như chuyện phố lát đá dài nhiều dặm thì ghi rõ là theo lời sách xưa. Khi kể lại cho con cháu, cũng nên nói rõ chỗ nào là sử, chỗ nào là chuyện gia đình truyền miệng, để thế hệ sau có cơ sở tìm hiểu tiếp.
Đi xem dấu vết nhóm năm 1679 hôm nay
Thất Phủ cổ miếu (Chùa Ông) trên Cù lao Phố. Nên đến buổi sáng ngày thường để xem kỹ hoành phi, câu đối và bia trùng tu. Đây là nơi rõ nhất để cảm nhận quy mô cộng đồng người Hoa ở Biên Hoà thế kỷ 17–18.
Đình Tân Lân ở Biên Hoà. Đình thờ Trần Thượng Xuyên; dịp lễ kỳ yên của đình có đông người dân địa phương tham dự. Đi xem với thái độ khách tham quan di tích, hỏi ban quý tế trước khi chụp ảnh bên trong.
Bờ sông quanh Cù lao Phố. Đi dọc bờ sông có thể hình dung vị trí bến thuyền ngày trước. Dấu tích phố lát đá không còn rõ; những gì sách tả nên đọc như ký ức của một thời.
Đình miếu ven sông Tiền ở Mỹ Tho. Các đình, miếu, hội quán người Hoa ở Mỹ Tho giữ bia trùng tu qua nhiều đời. Người tìm gốc họ nên hỏi ban quản lý về danh sách họ tộc đóng góp.
Đọc sử liệu gốc qua bản dịch. Gia Định thành thông chí và Đại Nam thực lục đều có bản dịch tiếng Việt in ở các nhà xuất bản lớn, có ở thư viện tỉnh. Đọc trực tiếp giúp phân biệt điều sử chép với điều truyền miệng.
Câu hỏi thường gặp
Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch đến Việt Nam năm nào?
Theo sử nhà Nguyễn, hai nhóm đến năm Kỷ Mùi 1679, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần. Họ cập cửa Tư Dung và cửa Đà Nẵng, xin ở lại làm dân, rồi được cho vào vùng đất phía nam, nhóm Trần Thượng Xuyên ở Biên Hoà, nhóm Dương Ngạn Địch ở Mỹ Tho.
Cù lao Phố nằm ở đâu?
Cù lao Phố là một cù lao giữa sông Đồng Nai thuộc khu vực Biên Hoà, nay thuộc tỉnh Đồng Nai. Đây là nơi có Nông Nại đại phố thế kỷ 17–18, và hiện còn Thất Phủ cổ miếu (Chùa Ông) cùng một số đình chùa cổ.
Vì sao nhà chúa Nguyễn cho nhóm người Hoa này ở lại?
Sử chép rằng vùng đất phía nam khi ấy còn rộng và thưa người, việc có thêm dân vào khai hoang và mở mang buôn bán là có lợi cho vùng đất mới. Nhóm người đến lại có đủ gia quyến, thợ thuyền, người buôn để lập phố chợ ngay.
Nông Nại đại phố còn lại gì?
Phố lát đá và dãy nhà ngói ngày xưa không còn. Dấu vết rõ nhất là Thất Phủ cổ miếu, các đình chùa cổ trên cù lao và ở Biên Hoà, đình Tân Lân thờ Trần Thượng Xuyên, cùng ghi chép trong Gia Định thành thông chí.
Con cháu nhóm năm 1679 bây giờ ở đâu?
Họ đã hoà vào cư dân Nam Bộ qua hơn ba trăm năm. Nhiều người thuộc lớp Minh Hương, khai dân tộc Kinh, sống ở Đồng Nai, TP.HCM, Đồng Tháp và các tỉnh miền Tây. Gia phả, bài vị và tên họ là manh mối chính để nhận ra gốc gác này.
Có tài liệu nào đáng tin để đọc thêm về sự kiện năm 1679?
Hai nguồn hay được dẫn là Đại Nam thực lục và Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, đều có bản dịch tiếng Việt. Ngoài ra các công trình nghiên cứu về lịch sử Đồng Nai, Biên Hoà và người Hoa Nam Bộ của các nhà sử học trong nước có phân tích kỹ hơn.