HoaKieu.comHoa Kiều
Lịch sử các làn sóng di cư

Phố cảng của thương nhân Hoa thời thuyền buồm: Hội An, Phố Hiến, Malacca và Batavia

Gió mùa quyết định nhịp buôn của thuyền Trung Hoa ở châu Á thế kỷ 16–18. Bốn phố cảng Hội An, Phố Hiến, Malacca, Batavia và cách người Hoa ở lại lập phố.

A narrow riverside street of old yellow shophouses with wooden shutters at dawn, a woman in a conical hat carrying baskets seen from behind, wooden boats moored nearby

Từ cuối thế kỷ 16 đến thế kỷ 18, thương nhân Hoa đi thuyền buồm theo gió mùa đến các phố cảng Đông Nam Á, ở lại chờ gió đổi chiều, và một phần trong số họ lập phố ở luôn. Hội An, Phố Hiến ở Việt Nam, Malacca trên bán đảo Mã Lai và Batavia (Jakarta ngày nay) là bốn nơi tiêu biểu, mỗi nơi để lại một kiểu cộng đồng khác nhau.

Hiểu nhịp gió mùa và cách một chuyến buôn vận hành là chìa để hiểu vì sao người Hoa ở lại, vì sao họ lấy vợ bản xứ và vì sao các phố này có hình dạng như ta thấy hôm nay. Bài đi qua từng phố cảng, rồi so điểm giống và khác.

Gió mùa: chiếc đồng hồ của mỗi chuyến buôn

Thuyền buồm Trung Hoa, người phương Tây gọi chung là junk, đi biển nhờ gió. Trên biển Đông và vùng biển Đông Nam Á, gió mùa đông bắc thổi từ khoảng tháng Mười Một đến tháng Hai, gió mùa tây nam thổi từ khoảng tháng Năm đến tháng Tám. Thuyền từ các cảng Phúc Kiến, Quảng Đông như Nguyệt Cảng ở Chương Châu, Hạ Môn hay Quảng Châu giương buồm xuôi nam vào đầu mùa đông bắc, và chỉ quay về được khi gió tây nam đến.

Như vậy mỗi chuyến buôn kéo dài gần một năm, trong đó có vài tháng thuyền nằm ở cảng. Đó là thời gian bán hàng mang theo như tơ lụa, đồ gốm, giấy, thuốc bắc, đồ sắt, và gom hàng mang về như trầm hương, quế, đường, hồ tiêu, sừng, ngà, gạo, gỗ quý. Thương nhân cần người ở lại cảng quanh năm để gom hàng trước khi thuyền tới, cho vay ứng trước với người bản xứ, giữ kho, theo dõi giá. Những người ở lại ấy chính là hạt nhân của các khu phố Hoa.

Người ở lại nhiều năm thường lấy vợ người bản xứ. Người vợ vừa là gia đình, vừa là đầu mối với chợ địa phương, biết tiếng, biết người, có khi tự mình đứng buôn. Con cái họ lớn lên giữa hai nếp sống. Từ đây sinh ra các cộng đồng lai như Minh Hương ở Việt Nam hay Peranakan ở Malacca, Java.

Hội An: phố của nhiều đoàn thuyền

Hội An bên sông Thu Bồn (nay thuộc Đà Nẵng) phát triển mạnh từ cuối thế kỷ 16 khi các chúa Nguyễn ở Đàng Trong mở cửa buôn bán. Đầu thế kỷ 17, thuyền Nhật Bản và thuyền Trung Hoa cùng đến đây, mỗi bên có khu phố riêng hai đầu chiếc cầu mà sau này gọi là Chùa Cầu. Một giáo sĩ người Ý từng sống ở Đàng Trong khoảng những năm 1618–1622 mô tả phố cảng này có hai khu, một của người Hoa, một của người Nhật, mỗi khu có quan cai riêng.

Khi thuyền Nhật thưa dần từ giữa thế kỷ 17, người Hoa trở thành cộng đồng buôn bán chính. Họ dựng hội quán theo quê: Phúc Kiến, Quảng Triệu, Triều Châu, Hải Nam, và cùng nhau lập Trung Hoa hội quán. Làng Minh Hương ở Hội An gom con cháu các gia đình người Hoa đến sớm, có nhà thờ tổ chung là Minh Hương Tụy Tiên đường.

Hội An giữ được dáng phố cảng xưa phần lớn vì sông bồi lấp, tàu lớn chuyển ra Đà Nẵng từ thế kỷ 19, phố ít bị xây mới. Năm 1999, khu phố cổ được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới. Người đến hôm nay đi dọc đường Trần Phú sẽ gặp lần lượt các hội quán, mỗi nơi một kiểu mái, kiểu cổng, phản ánh gu của từng nhóm quê.

Phố Hiến: thương cảng sông Hồng của thế kỷ 17

Phố Hiến nằm bên sông Hồng, cách kinh thành Thăng Long khoảng vài chục cây số về phía hạ lưu, nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Thế kỷ 17, thuyền buôn nước ngoài muốn lên Thăng Long phải dừng ở đây để khai báo, nên Phố Hiến thành nơi tụ hội của thương nhân Hoa, Nhật, rồi người Hà Lan, người Anh lập thương điếm.

Người Hoa ở Phố Hiến có khu phố riêng, buôn bán tơ lụa, đồ gốm, thuốc bắc. Đền Thiên Hậu ở Phố Hiến, nơi thờ nữ thần biển của người đi thuyền, là một trong những công trình người Hoa dựng còn lại đến nay, cùng một số đền miếu khác trong khu di tích. Câu "Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến" được truyền miệng để nói độ sầm uất của phố này, chỉ đứng sau kinh thành.

Từ thế kỷ 18, Phố Hiến suy dần vì sông Hồng đổi dòng, bồi lấp, thuyền lớn khó vào, cùng với việc buôn bán đường dài trên sông Hồng thu hẹp. Khác Hội An, Phố Hiến không giữ được phố nhà ống liền dãy; dấu vết còn lại chủ yếu là đền chùa, bia đá và tên đất. Người tìm hiểu cộng đồng Hoa ở miền Bắc thời này thường phải dựa vào bia đá ở các đền, chùa trong khu di tích.

Malacca: phố của người Baba Nyonya

Malacca (Melaka) nằm trên eo biển cùng tên, nơi tàu bè từ Ấn Độ Dương sang biển Đông buộc phải đi qua. Vương quốc Malacca hưng thịnh từ đầu thế kỷ 15 và đã đón các đoàn thuyền lớn của Trịnh Hoà. Sau đó cảng lần lượt nằm dưới quyền người Bồ Đào Nha từ năm 1511, người Hà Lan từ năm 1641, rồi người Anh, nhưng cộng đồng người Hoa vẫn ở lại qua các đời chủ.

Người Hoa đến Malacca phần lớn từ Phúc Kiến. Những người lấy vợ bản xứ sinh ra lớp con cháu gọi là Peranakan, đàn ông gọi Baba, phụ nữ gọi Nyonya. Họ nói một thứ tiếng Mã Lai pha nhiều từ Phúc Kiến, mặc áo kebaya thêu, nấu món ăn trộn gia vị Mã Lai với cách chế biến Hoa, nhưng vẫn giữ tục thờ tổ tiên, cưới hỏi kiểu Hoa.

Chùa Cheng Hoon Teng (Thanh Vân Đình) trên phố Tokong, tương truyền dựng từ thế kỷ 17, được xem là ngôi chùa người Hoa cổ nhất Malaysia còn hoạt động. Đồi Bukit Cina có nghĩa trang người Hoa rộng với hàng nghìn ngôi mộ cổ. Năm 2008, Malacca cùng George Town (Penang) được UNESCO công nhận chung là Di sản Văn hoá Thế giới.

Batavia: thành phố người Hoa góp tay dựng

Batavia do Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) lập năm 1619 trên đất Jayakarta, bờ bắc đảo Java. Ngay từ đầu, VOC cần thợ xây, thợ mộc, người buôn bán và người trồng mía, nên tìm cách thu hút người Hoa đến. Người Hoa làm gạch, xây nhà, đào kênh, buôn bán, thầu thuế chợ, rồi mở các lò ép đường ở vùng ngoại ô.

VOC quản lý cộng đồng này qua một người đứng đầu gọi là Kapitan Cina, tức "thủ lĩnh người Hoa", lo việc thuế, tranh chấp, cưới hỏi, tang lễ trong cộng đồng. Người giữ chức đầu tiên là Souw Beng Kong, một thương nhân gốc Phúc Kiến. Mô hình Kapitan này về sau được người Anh dùng lại ở Penang, Singapore, Kuala Lumpur, và có nét giống chế độ bang ở Nam Kỳ.

Khu Glodok ở Jakarta ngày nay là phố người Hoa của thành phố, có chùa Kim Đức Viện (Vihara Dharma Bhakti), một trong những ngôi chùa người Hoa lâu đời ở Jakarta. Ở Java cũng hình thành lớp người Peranakan nói tiếng Mã Lai và tiếng Java, có văn học, báo chí riêng vào cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20.

Người ở lại phố cảng sống bằng nghề gì

Gom hàng và cho vay ứng trước. Người ở lại đặt tiền trước cho người trồng quế, nấu đường, tìm trầm để có hàng sẵn khi thuyền đến. Việc này cần quen biết lâu năm với người bản xứ, nên người làm thường là người đã lấy vợ, có nhà ở cảng.

Mở tiệm bán lẻ và làm môi giới. Hàng từ thuyền không bán hết trong một lần; người ở lại mở tiệm bán dần đồ gốm, vải, thuốc bắc, giấy, kim chỉ cho dân quanh vùng, đồng thời làm trung gian giữa thuyền buôn với quan sở tại.

Làm thủ công phục vụ phố cảng. Thợ mộc đóng và sửa thuyền, thợ làm đèn lồng, thợ may, thợ bạc, thợ làm bánh, người nấu ăn. Ở Hội An, nhiều nghề thủ công của phố cổ hôm nay có gốc từ các xưởng nhỏ của người Hoa và người Minh Hương ngày trước.

Làm thông ngôn, ghi sổ cho chính quyền. Người biết chữ Hán, biết tiếng bản xứ được nhờ làm thông ngôn, ghi chép thuế thuyền, kiểm hàng. Ở Đàng Trong, một số người Minh Hương về sau làm quan, viết sử, như Trịnh Hoài Đức ở Gia Định.

Trồng trọt và chế biến quanh phố. Ở Batavia và vùng ngoại ô các cảng Java, người Hoa trồng mía và ép đường; ở Malacca họ trồng hồ tiêu, cau. Phố cảng không chỉ có người buôn mà còn có cả một vành đai sản xuất nuôi việc buôn.

Đi tìm dấu vết phố cảng hôm nay

Người muốn tận mắt thấy dấu vết thời thuyền buồm nên bắt đầu từ các công trình cộng đồng, vì nhà ở tư nhân thường đã sửa nhiều lần. Hội quán, đền miếu, nghĩa trang và bia đá là những nơi giữ được tên người, tên quê, năm xây dựng. Bia trùng tu thường liệt kê người đóng góp kèm tên phố, tên bang, là tư liệu quý để biết ai từng sống ở đâu.

Ở Hội An, nên vào nhà thờ tộc của các họ lâu đời và các hội quán dọc phố chính, để ý hoành phi, câu đối ghi tên làng quê bên kia. Ở Phố Hiến, nên đọc bia ở đền Thiên Hậu và các đền lân cận. Ở Malacca, bảo tàng nhà Baba Nyonya trên phố Heeren và chùa Cheng Hoon Teng cho thấy đời sống của người Peranakan; đồi Bukit Cina cho thấy quy mô cộng đồng qua số mộ.

Khi xem, nên tách huyền thoại khỏi sử liệu. Nhiều câu chuyện về ngày lập phố được kể lại qua nhiều đời và có nhiều dị bản. Những thông tin chắc hơn thường là năm ghi trên bia, tên người đóng góp và ghi chép của các nhà buôn, giáo sĩ nước ngoài đương thời. Người đi tìm gốc gác gia đình nên chụp ảnh bia rõ nét, ghi vị trí, rồi nhờ người đọc được chữ Hán dịch lại.

Bốn phố cảng: giống và khác

Đặt bốn nơi cạnh nhau sẽ thấy một khuôn chung: phố cảng cần người ở lại, người ở lại lấy vợ bản xứ, con cháu thành một lớp người lai mang tên riêng. Chỗ khác nằm ở chính quyền sở tại và số phận của cảng.

Phố cảngThịnh nhấtNhóm quê chínhLớp con cháu laiCòn lại hôm nay
Hội AnCuối thế kỷ 16 – thế kỷ 18Phúc Kiến, Quảng Đông, Triều Châu, Hải NamMinh HươngPhố cổ, hội quán, Di sản Thế giới
Phố HiếnThế kỷ 17Phúc Kiến, Quảng ĐôngHoà vào cư dân địa phươngĐền miếu, bia đá
MalaccaThế kỷ 15 – 18Phúc KiếnBaba Nyonya (Peranakan)Phố cổ, chùa, nghĩa trang, Di sản Thế giới
BataviaThế kỷ 17 – 18Phúc KiếnPeranakan JavaKhu Glodok, chùa cổ

Điểm chung đáng nhớ: lớp người lai ở cả bốn nơi đều giữ tục thờ tổ tiên và lễ Tết của người Hoa, nhưng tiếng nói hằng ngày thường chuyển sang tiếng bản xứ chỉ sau vài đời. Đó là lý do một người Minh Hương hay một người Baba có thể không nói được tiếng Hoa mà vẫn giữ trọn bàn thờ họ.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao thương nhân Hoa thời xưa phải ở lại phố cảng nhiều tháng?

Vì thuyền buồm phụ thuộc gió mùa. Gió đông bắc đưa thuyền xuống phía nam vào đầu mùa đông, và phải đợi gió tây nam đầu hè mới về được. Trong mấy tháng chờ, thương nhân bán hàng, gom hàng, và một số người ở lại hẳn để giữ việc buôn quanh năm.

Chùa Cầu ở Hội An có liên quan gì đến người Hoa?

Chùa Cầu thường được kể là do thương nhân Nhật dựng vào khoảng đầu thế kỷ 17, nối khu phố Nhật với phía bên kia. Khi người Nhật thưa dần, người Hoa và người Việt cùng sửa chữa, trùng tu cây cầu nhiều lần, nên kiến trúc hiện nay mang dấu của cả ba.

Peranakan là gì?

Peranakan là tên gọi con cháu những người Hoa đến sớm ở Malacca, Penang, Singapore và Java, có mẹ hoặc bà là người bản xứ. Đàn ông gọi Baba, phụ nữ gọi Nyonya. Họ nói tiếng Mã Lai pha tiếng Phúc Kiến, có ẩm thực và trang phục riêng nhưng giữ tục thờ tổ tiên kiểu Hoa.

Phố Hiến bây giờ còn gì để xem?

Phố Hiến không còn dãy phố nhà ống như Hội An. Khu di tích ở Hưng Yên còn đền Thiên Hậu, đền Mẫu, văn miếu và một số đền chùa khác, kèm bia đá ghi tên người đóng góp. Đi xem nên có người hướng dẫn để đọc được dấu vết cộng đồng thương nhân ngày trước.

Kapitan Cina là chức gì?

Đó là người đứng đầu cộng đồng người Hoa do chính quyền Hà Lan, rồi người Anh, bổ nhiệm ở Batavia, Malacca, Penang, Kuala Lumpur. Kapitan lo thuế, phân xử tranh chấp, cưới hỏi, tang lễ trong cộng đồng, có vai trò gần giống bang trưởng ở Nam Kỳ.

Có nên đi Hội An và Malacca để so sánh hai phố cảng?

Nếu quan tâm lịch sử người Hoa, đi cả hai nơi rất đáng. Hội An cho thấy phố của nhiều nhóm quê với các hội quán riêng; Malacca cho thấy đời sống của người Baba Nyonya với nhà phố sâu, ẩm thực lai. Nên đi chậm, vào hội quán và bảo tàng nhỏ, hỏi người giữ đền.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.