Tiếng Quảng Đông (廣東話, còn gọi tiếng Quảng, Cantonese) là thứ tiếng của vùng châu thổ Châu Giang quanh Quảng Châu, Hồng Kông, Ma Cao, có khoảng sáu thanh, giữ các âm cuối -p, -t, -k và có cả một lớp chữ viết riêng cho lời nói thường ngày. Ở Việt Nam, đây là phương ngữ của nhóm người Hoa đông nhất và là tiếng buôn bán chung lâu đời ở khu Chợ Lớn.
Ngoài Việt Nam, tiếng Quảng Đông từng là tiếng chính của gần như mọi phố người Hoa ở Mỹ, Canada, Úc, Anh trong hơn một thế kỷ. Bài này nói về đặc điểm âm, chữ, phạm vi sử dụng của tiếng Quảng Đông và những điều người Việt, nhất là con cháu gốc Quảng, nên biết khi muốn nghe hiểu hoặc học lại thứ tiếng này.
Tiếng Quảng Đông nói ở đâu
Gốc của tiếng Quảng Đông là Quảng Châu, thủ phủ tỉnh Quảng Đông, và vùng châu thổ quanh đó: Phật Sơn, Thuận Đức, Trung Sơn, Giang Môn. Người Hoa ở Việt Nam hay gọi nhóm này là người Quảng Phủ hoặc Quảng Triệu (ghép tên Quảng Châu và Triệu Khánh), như trong tên hội quán Quảng Triệu ở Hội An (nay thuộc Đà Nẵng).
Vùng Tứ Ấp (Đài Sơn, Tân Hội, Khai Bình, Ân Bình) nằm ngay cạnh nhưng nói một thứ tiếng Quảng khác khá xa, gọi là tiếng Đài Sơn. Điều này quan trọng với người tìm gốc ở Bắc Mỹ: những đợt người Hoa đầu tiên đến California thế kỷ 19 phần lớn là người Đài Sơn, nên phố người Hoa ở San Francisco từng nói tiếng Đài Sơn trước khi tiếng Quảng chuẩn và tiếng Phổ thông thay thế.
Ngày nay tiếng Quảng Đông còn là tiếng chính của đời sống thường ngày ở Hồng Kông và Ma Cao, là tiếng chung của nhiều người Hoa ở Kuala Lumpur và Ipoh (Malaysia) dù gốc họ không hẳn là Quảng. Ở Việt Nam, khu Chợ Lớn (các quận 5, 6, 11 cũ của TP.HCM) là nơi tiếng Quảng vang nhiều nhất, kế đến là các thị trấn có người Hoa ở Đông Nam Bộ và miền Tây.
Nhiều gia đình người Hoa từ Việt Nam đã định cư ở Mỹ, Úc, Pháp, Canada và mang theo tiếng Quảng kiểu Chợ Lớn. Người Hồng Kông nghe có thể nhận ra giọng hơi khác, vài từ lạ mượn tiếng Việt, nhưng vẫn là cùng một thứ tiếng.
Sáu thanh và các âm cuối: vì sao người Việt nghe thấy quen
Sách học tiếng Quảng hiện nay thường dạy sáu thanh, đánh số 1 đến 6 trong hệ phiên âm Jyutping (do Hội Ngôn ngữ học Hồng Kông công bố năm 1993). Sách cũ hơn tính chín thanh, vì tách riêng ba thanh của các âm tiết kết thúc bằng -p, -t, -k. Hai cách đếm không mâu thuẫn, chỉ khác cách phân loại.
Với người Việt, điểm thuận lợi lớn là các âm cuối. Tiếng Việt có "hợp", "nhất", "học" kết thúc bằng p, t, c; tiếng Quảng Đông cũng giữ nguyên những âm này, còn tiếng Phổ thông thì đã mất. Chữ 學 (học) tiếng Quảng đọc gần "hoọc", chữ 一 (nhất) đọc "giất", chữ 合 (hợp) đọc "hạp". Người biết Hán Việt nghe tiếng Quảng hay có cảm giác "na ná", điều không xảy ra khi nghe tiếng Phổ thông.
Tiếng Quảng còn giữ phụ âm cuối -m (như 三 tam, tiếng Quảng "xam", tiếng Phổ thông "sān"), trong khi tiếng Phổ thông đã nhập -m vào -n. Phụ âm đầu "ng" cũng còn ở nhiều chữ: 我 (ngã, nghĩa là "ta") tiếng Quảng đọc "ngọ" hoặc "ọ", 牛 (ngưu, bò) đọc "ngầu".
Điểm khó là sáu thanh phân biệt nghĩa rất chặt. Âm "si" với sáu thanh có thể là thơ, sử, thử, thời, thị, sự. Người mới học thường nói đúng chữ nhưng sai thanh, người nghe phải đoán qua ngữ cảnh. Thanh tiếng Quảng không trùng với thanh tiếng Việt, nên đừng gán "thanh 1 là dấu ngang, thanh 2 là dấu sắc" cho dễ nhớ; cách đó giúp lúc đầu nhưng sai dần về sau.
Tiếng Quảng Đông và tiếng Phổ thông khác nhau trong câu nói thường ngày
Nhiều chữ chung nghĩa nhưng câu nói hằng ngày dùng từ khác hẳn. Bảng dưới là vài cặp hay gặp nhất, phiên âm theo cách người Việt dễ đọc gần đúng, không phải phiên âm chuẩn.
| Nghĩa | Tiếng Quảng Đông | Tiếng Phổ thông |
|---|---|---|
| Nó, anh ấy | 佢 (cuỷ) | 他 / 她 (tha) |
| Không có | 冇 (mấu) | 沒有 (mấy dẩu) |
| Xem, nhìn | 睇 (thải) | 看 (khan) |
| Cái gì | 乜嘢 (mặt dé) | 什麼 (sấn mơ) |
| Của (trợ từ) | 嘅 (ghé) | 的 (tợ) |
| Cảm ơn (khi được giúp) | 唔該 (m gơi) | 謝謝 (xia xia) |
| Ăn cơm | 食飯 (sực phàn) | 吃飯 (chư phan) |
Tiếng Quảng có hai cách cảm ơn: 唔該 khi ai đó làm giúp một việc nhỏ (rót trà, đưa đồ), 多謝 (tô chè) khi nhận quà hay được khen. Người Hoa lớn tuổi ở Chợ Lớn rất để ý chỗ này, dùng lẫn sẽ nghe ngượng.
Bảng cũng cho thấy vì sao tiếng Quảng cần chữ riêng: 佢, 冇, 睇, 嘅 hầu như không dùng trong văn Phổ thông.
Chữ Quảng Đông viết riêng: văn nói lên trang giấy
Văn viết chính thức ở Hồng Kông, kể cả báo chí và văn bản hành chính, vẫn theo ngữ pháp và từ vựng của tiếng Phổ thông viết, chỉ đọc lên bằng âm Quảng. Một người Hồng Kông đọc to bài báo thì đọc bằng tiếng Quảng, nhưng câu chữ trên giấy không phải lời nói thường ngày.
Điều này giống chuyện người Việt đọc một văn bản hành chính: đọc bằng tiếng Việt, nhưng không ai nói chuyện ở nhà bằng những câu như thế. Khoảng cách giữa văn viết và lời nói ở tiếng Quảng Đông lớn hơn nhiều, vì văn viết chuẩn dựa trên một thứ tiếng khác hẳn. Học sinh Hồng Kông vì vậy học viết theo chuẩn Phổ thông ngay từ tiểu học, dù ở nhà nói tiếng Quảng.
Song song với đó là chữ Quảng Đông viết theo lời nói (粵語白話文), dùng trong tin nhắn, mạng xã hội, quảng cáo, truyện tranh, lời thoại phim và cột báo giải trí. Lớp chữ này có vài trăm chữ thường dùng không có trong văn Phổ thông, nhiều chữ mang bộ 口 (khẩu) bên trái để báo hiệu "chữ dùng ghi âm lời nói", như 咁 (như thế), 咩 (gì), 啲 (một ít), 嚟 (đến).
Với con cháu gốc Quảng muốn đọc lại thư từ của ông bà, điều này có hai hệ quả. Thư viết trang trọng (báo tin, chúc Tết, kể chuyện làm ăn) thường đọc được nếu biết chữ Hán phổ thông. Nhưng giấy ghi chép trong nhà, sổ chi tiêu, đoạn ghi chú bên lề có thể dùng chữ Quảng, và lúc đó cần người biết tiếng Quảng đọc giúp.
Chữ Quảng Đông viết riêng gần như luôn là chữ phồn thể, theo thói quen của Hồng Kông và Ma Cao. Bộ gõ trên điện thoại hiện nay có thể gõ được phần lớn các chữ này, nhưng một số chữ hiếm vẫn phải tra bảng riêng.
Tiếng Quảng trong đời sống người Hoa và người Việt Nam Bộ
Tiếng buôn bán chung. Ở các chợ sỉ khu Chợ Lớn, tiếng Quảng từng là tiếng làm ăn giữa các bang. Người bán gốc Triều Châu, Phúc Kiến muốn buôn với bạn hàng khác bang thường học tiếng Quảng trước.
Phim và nhạc. Từ thập niên 1980, phim bộ và nhạc Hồng Kông phổ biến ở Việt Nam. Một thế hệ người Việt thuộc lòng giai điệu nhạc Quảng, nhớ tên nhân vật đọc theo âm Hán Việt, dù phần lớn xem bản lồng tiếng.
Từ ngữ đi vào tiếng Việt. Nhiều tên món ăn quen thuộc ở Nam Bộ có gốc tiếng Quảng: xá xíu, há cảo, xíu mại, xì dầu, lạp xưởng, tả pín lù. Cách đọc đã Việt hoá nhưng vẫn nhận ra âm Quảng nếu so kỹ.
Kịch hát Quảng Đông. Hí khúc Quảng Đông (粵劇 Việt kịch, được UNESCO ghi danh năm 2009) từng có đoàn diễn thường xuyên ở Chợ Lớn. Ngày nay chủ yếu diễn trong dịp lễ hội ở hội quán và câu lạc bộ người cao tuổi.
Tiếng gọi trong nhà. Các cách gọi như "a ba" (cha), "a má" (mẹ), "chế" (chị), "dì" (cô, dì), "a khậu" (cậu) trong nhiều gia đình gốc Quảng vẫn còn dù con cháu đã nói tiếng Việt là chính.
Những hiểu lầm hay gặp về tiếng Quảng Đông
"Tiếng Quảng chỉ là giọng địa phương của tiếng Phổ thông." Không đúng. Tiếng Quảng Đông có hệ âm, thanh điệu, từ vựng và một phần ngữ pháp riêng, phát triển song song với Quan thoại từ rất lâu. Gọi là "phương ngữ" là theo thói quen văn hoá, còn xét chuyện nghe hiểu thì đây là một thứ tiếng riêng.
"Biết chữ Hán là đọc được mọi thứ người Hồng Kông viết." Chỉ đúng với văn viết trang trọng. Tin nhắn, lời thoại, quảng cáo bằng chữ Quảng có nhiều chữ và cấu trúc mà người chỉ học Phổ thông không nhận ra, như câu dùng 係 (là) thay cho 是, hay đặt 先 (trước) ở cuối câu.
"Tiếng Quảng ở Chợ Lớn là tiếng Quảng sai." Không có chuyện sai. Tiếng Quảng ở Chợ Lớn, Kuala Lumpur, Vancouver đều là những giọng sống, mỗi nơi có từ mượn của nước sở tại. Người Hồng Kông nghe thấy lạ tai ở vài từ, cũng như người Hà Nội nghe giọng Sài Gòn.
"Tiếng Quảng sắp mất." Ở Việt Nam, số người trẻ nói thạo đúng là đang giảm, nhưng trên thế giới tiếng Quảng Đông vẫn có hàng chục triệu người nói hằng ngày, có báo chí, phim ảnh, âm nhạc và bộ gõ riêng. Cái mỏng đi là tiếng Quảng trong từng gia đình, không phải bản thân thứ tiếng.
Con cháu muốn học lại tiếng Quảng: nên bắt đầu từ đâu
Người đã nghe tiếng Quảng từ nhỏ thường có lợi thế ẩn: tai đã quen thanh điệu, chỉ thiếu vốn từ và sự tự tin. Cách học hiệu quả nhất với nhóm này là nghe nói trước, chữ sau. Mỗi tuần dành vài buổi nói chuyện bằng tiếng Quảng với ông bà, cô chú, ghi âm lại để nghe những câu mình chưa hiểu, rồi hỏi lại.
Người bắt đầu từ đầu nên học một hệ phiên âm, phổ biến nhất hiện nay là Jyutping, để ghi lại âm và thanh chính xác. Học chữ thì đi kèm từ đầu, nhưng chấp nhận rằng nhiều câu nói thường ngày phải học chữ Quảng riêng.
Nguồn nghe tốt là phim, chương trình truyền hình và kênh video của người nói tiếng Quảng ở Hồng Kông, Ma Cao, Quảng Châu, Malaysia. Nên nghe nhiều giọng để không bị quen một giọng duy nhất. Với người ở TP.HCM, đi chợ, uống trà sáng ở khu Chợ Lớn, nghe người lớn tuổi trò chuyện là một lớp học thật.
Một mục tiêu thực tế cho người trưởng thành bận rộn là đi theo ba nấc: nghe hiểu chuyện thường ngày trong nhà; nói được với ông bà những câu hỏi han, chúc Tết, kể chuyện học hành; đọc được thư, thiệp, câu đối viết trang trọng. Viết thành thạo chữ Quảng riêng là nấc cuối, không phải ai cũng cần.
Câu hỏi thường gặp
Tiếng Quảng Đông có phải là tiếng Hồng Kông không?
Tiếng nói chính ở Hồng Kông là tiếng Quảng Đông, gần như cùng giọng với Quảng Châu, chỉ khác một số từ vựng và từ mượn tiếng Anh. Người Hoa gốc Quảng ở Việt Nam nói cùng thứ tiếng ấy, có thêm vài từ mượn tiếng Việt. Gọi "tiếng Hồng Kông" là cách nói dân gian, không phải tên gọi chuẩn.
Học tiếng Quảng khó hơn hay dễ hơn tiếng Phổ thông?
Với người Việt, phát âm tiếng Quảng có phần dễ hơn nhờ các âm cuối giống Hán Việt và tiếng Việt, nhưng sáu thanh đòi hỏi nghe kỹ. Tài liệu học tiếng Phổ thông thì nhiều hơn hẳn, giáo trình có hệ thống hơn. Độ khó tuỳ người, còn độ sẵn tài liệu thì nghiêng hẳn về tiếng Phổ thông.
Tiếng Đài Sơn khác tiếng Quảng Đông thế nào?
Tiếng Đài Sơn thuộc nhánh Tứ Ấp của nhóm Yue, cùng họ với tiếng Quảng Đông nhưng khác khá nhiều ở phụ âm đầu, vần và thanh. Người nói tiếng Quảng chuẩn thường chỉ hiểu một phần tiếng Đài Sơn. Nhiều gia đình người Hoa lâu đời ở Mỹ, Canada có gốc Đài Sơn.
Có nên ghi tên con theo phiên âm tiếng Quảng không?
Đây là lựa chọn của từng gia đình. Tên trên giấy tờ Việt Nam dùng chữ Việt, nhiều nhà vẫn đặt thêm tên chữ Hán và đọc theo tiếng Quảng trong gia đình. Nếu con sẽ sống ở nước ngoài, nên thống nhất một cách viết Latinh cho tên ấy từ sớm để giấy tờ về sau khớp nhau.
Hệ phiên âm Jyutping và Yale khác nhau ra sao?
Cả hai đều ghi âm tiếng Quảng bằng chữ Latinh. Yale ra đời sớm hơn, phổ biến trong giáo trình tiếng Anh cũ, ghi thanh bằng dấu và chữ h. Jyutping ghi thanh bằng số 1–6 ở cuối âm tiết, được dùng nhiều trong từ điển và bộ gõ hiện nay. Người mới học nên chọn một hệ và giữ đến cùng.
Người Hoa ở Malaysia nói tiếng Quảng có giống ở Chợ Lớn không?
Cùng là tiếng Quảng Đông nên nói chuyện được với nhau. Giọng Kuala Lumpur, Ipoh có thêm từ mượn tiếng Mã Lai và tiếng Anh, giọng Chợ Lớn có từ mượn tiếng Việt. Khác biệt chủ yếu ở từ vựng đời thường, không cản trở việc hiểu nhau.