Để tìm làng quê tổ tiên, cần tách địa danh trên bia mộ hay gia phả thành bốn tầng (tỉnh, phủ hoặc châu, huyện, làng), tra tên huyện cũ ra tên hiện nay, rồi dùng tên làng cùng với họ của mình để xác định đúng nơi, vì ở vùng quê miền nam Trung Quốc nhiều làng chỉ có một họ. Phần khó nhất thường là tên làng: nó ít khi có trong sách tra cứu phổ thông và hay được ghi theo âm phương ngữ.
Bài này đi qua bốn tầng địa danh, những lý do khiến tên cũ khó tra, các vùng quê phổ biến của người Hoa ở Việt Nam theo nhóm phương ngữ, công cụ tra cứu, cách nhận ra đúng làng và những việc nên chuẩn bị trước khi về thăm. Ví dụ gia đình trong bài là ví dụ giả định.
Bốn tầng địa danh và mỗi tầng cho biết gì
Tỉnh (省). Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam, đôi khi Quảng Tây. Tầng này chỉ khoanh vùng rất rộng; một bia chỉ ghi tỉnh thì chưa đủ để tìm.
Phủ hoặc châu (府, 州). Đơn vị trung gian thời Thanh như Quảng Châu phủ, Triều Châu phủ, Chương Châu phủ, Gia Ứng châu, Quỳnh Châu phủ. Tầng này thường đủ để biết nhóm phương ngữ.
Huyện (縣). Tân Hội, Đài Sơn, Trừng Hải, Phổ Ninh, Tấn Giang, Văn Xương… Đây là tầng mà nhiều bia mộ người Hoa ở Việt Nam ghi ở hàng trên cùng, và là tầng quan trọng nhất để bắt đầu tra.
Làng (鄉, 村, 里) hoặc đô, bảo. Tên làng có khi kèm tên đơn vị nhỏ hơn huyện thời trước. Tên làng hay gồm họ chính của làng hoặc một đặc điểm địa hình như núi, khe, đầm, bến.
Thêm một tầng nữa: từ đường. Trong làng, mỗi họ hoặc mỗi chi có từ đường riêng. Gia phả đôi khi ghi tên từ đường thay vì tên làng, và từ đường là nơi giữ gia phả gốc của chi họ.
Vì sao tên cũ khó tra
Thứ nhất, địa giới đã đổi nhiều lần trong hơn một thế kỷ. Phủ không còn là đơn vị hành chính; nhiều huyện được đổi tên, nhập vào thành phố bên cạnh hoặc thành quận. Ví dụ quen thuộc với người gốc Tứ Ấp: huyện Tân Ninh đổi tên thành Đài Sơn từ năm 1914; huyện Hương Sơn nay là Trung Sơn; huyện Tân Hội nay là một quận của Giang Môn.
Thứ hai, các giấy tờ ở nước ngoài thường ghi quê theo âm phương ngữ bằng chữ Latin, không theo chữ Hán. Hồ sơ di trú cũ ở Mỹ, Canada, Úc có những dạng như Toishan hay Hoiping, Sunwui, Chungshan, tức Đài Sơn, Khai Bình, Tân Hội, Trung Sơn theo âm tiếng Quảng. Người Việt quen âm Hán Việt nhìn những dạng này rất khó nhận ra.
Thứ ba, tên làng thường là tên dân gian, nhiều làng trùng tên trong cùng một huyện, và một số làng đã nhập vào làng bên cạnh hoặc thành khu phố khi đô thị lan ra. Bia mộ ở Việt Nam có khi ghi tên làng theo cách viết tắt của người trong vùng, chỉ người cùng quê mới hiểu.
Thứ tư, cùng một chữ Hán có thể được viết khác nhau qua thời gian: chữ dị thể trên bia cũ, chữ giản thể trong tài liệu mới, hay chữ đồng âm do người khắc chọn nhầm. Một tên làng tra mãi không ra đôi khi chỉ vì một chữ trên bia là dạng viết cũ của chữ đang dùng bây giờ.
Vì những lý do đó, nguyên tắc vàng là giữ nguyên văn chữ Hán của mọi dòng địa danh, chép thêm các dạng phiên âm gặp được, và tra từ tầng lớn xuống tầng nhỏ, không nhảy thẳng vào tên làng.
Các vùng quê thường gặp theo nhóm phương ngữ
Bảng dưới liệt kê một số vùng quê phổ biến của người Hoa ở Việt Nam và Đông Nam Á, theo tên Hán Việt thường gặp trên bia và gia phả. Đây là khái quát, mỗi nhóm còn nhiều huyện khác.
| Nhóm | Phủ, vùng cũ | Huyện hay gặp |
|---|---|---|
| Quảng Đông | Quảng Châu phủ, Triệu Khánh phủ | Tam Ấp (Nam Hải, Phiên Ngung, Thuận Đức), Tứ Ấp (Tân Hội, Đài Sơn, Khai Bình, Ân Bình), Đông Hoản |
| Triều Châu | Triều Châu phủ | Triều An, Trừng Hải, Triều Dương, Yết Dương, Phổ Ninh, Nhiêu Bình |
| Phúc Kiến | Tuyền Châu phủ, Chương Châu phủ | Tấn Giang, Nam An, An Khê, Đồng An, Hải Trừng, Long Khê, vùng Hạ Môn |
| Hẹ | Gia Ứng châu, Huệ Châu phủ | Mai huyện, Đại Bộ, Hưng Ninh, vùng Huệ Châu |
| Hải Nam | Quỳnh Châu phủ | Văn Xương, Quỳnh Sơn, Lạc Hội |
Tên hội quán ở Việt Nam cũng mang dấu vết những vùng quê này: Quảng Triệu là ghép Quảng Châu với Triệu Khánh, Ôn Lăng là hội của người Phúc Kiến vùng Tuyền Châu, Quỳnh Phủ là của người Hải Nam. Biết gia đình từng sinh hoạt ở hội quán nào là đã thu hẹp được vùng quê.
Công cụ để nối tên cũ với nơi chốn hiện nay
Không cần đến tận nơi mới tra được. Phần lớn việc đối chiếu làm được từ xa bằng các nguồn sau:
- Từ điển địa danh lịch sử. Tra tên phủ, huyện thời Thanh ra tên hiện nay; nhiều bản có tra cứu trực tuyến bằng chữ Hán.
- Huyện chí, địa phương chí (地方志). Sách của từng huyện, có bản cũ thời Thanh và bản soạn mới, thường liệt kê làng, họ chính của làng, từ đường.
- Đặc san của hội đồng hương. Hội đồng hương ở Singapore, Malaysia, Hồng Kông, Mỹ hay in danh sách làng quê của hội viên kèm chữ Hán.
- Người cùng quê. Người lớn tuổi cùng huyện ở Việt Nam hoặc ở nước khác thường biết tên làng theo âm phương ngữ và biết làng ấy giờ đổi tên gì.
- Gia phả của dòng họ ở quê. Nhiều dòng họ ở quê đã in lại gia phả, có khi đưa lên mạng; trong đó thường có danh sách các nhánh đã xuất dương.
Khi tra trên mạng, gõ bằng chữ Hán, cả phồn thể lẫn giản thể, vì nguồn ở các nơi dùng chữ khác nhau. Gõ tên làng kèm tên huyện để loại bớt các làng trùng tên.
Khi các nguồn ghi quê khác nhau
Không hiếm gia đình có bia mộ ghi một huyện, gia phả ghi huyện khác, còn ông bà kể một nơi thứ ba. Thường cả ba đều đúng ở một mức nào đó. Nhiều dòng họ đã dời chỗ ở ngay trong miền nam Trung Quốc trước khi có người xuất dương: một chi rời làng tổ sang huyện bên cạnh lập làng mới, vài đời sau mới có người đi Nam Dương. Gia phả ghi quê tổ xa, còn bia mộ ghi nơi người đi xa thực sự ra đi.
Một kiểu khác là gia đình từng dừng chân lâu ở Hồng Kông, Ma Cao, Quảng Châu, hoặc ở Campuchia, Thái Lan trước khi vào Việt Nam. Người già có khi gọi nơi dừng chân ấy là "quê", vì đó là nơi họ lớn lên. Lại có những gia đình người Hẹ hay người Phúc Kiến sống nhiều đời giữa vùng nói tiếng khác, nên tiếng nói trong nhà không khớp với quê ghi trên bia.
Cách xử lý là ghi tất cả các nơi vào bảng, mỗi nơi kèm nguồn và thời điểm, rồi sắp theo thứ tự thời gian. Thường sẽ hiện ra một lộ trình: làng tổ, nơi chi họ dời đến, nơi người đi xa xuống tàu, nơi dừng chân, rồi Việt Nam. Lộ trình ấy chính là lịch sử di cư của gia đình, và mỗi chặng là một nơi có thể còn họ hàng.
Nhận ra đúng làng: làng một họ và từ đường
Ở nhiều vùng quê Quảng Đông, Phúc Kiến, một làng thường là nơi tụ cư của một hoặc hai họ chính, con cháu cùng một tổ lập làng. Vì vậy khi tìm được một làng mang đúng tên trên bia và phần đông dân làng cùng họ với nhà mình, khả năng đó là quê tổ rất cao.
Bằng chứng mạnh nhất là gia phả hoặc bài thơ phân đời của họ ở làng khớp với nhà mình. Nếu từ đường còn, trong đó thường có bài vị tổ, câu đối, và có khi bảng ghi tên người góp công tu sửa, kể cả những người ở nước ngoài. Thấy tên ông cố hay ông nội nhà mình trong bảng đó là xác nhận rất rõ.
Cũng nên nhớ rằng một làng một họ không có nghĩa mọi người cùng họ trong huyện đều từ làng đó. Có khi trong một huyện có ba bốn làng cùng họ, mỗi làng một tổ khác nhau. Lúc ấy, chữ lót theo đời và tên tổ trong gia phả là thứ phân biệt được làng nào là của nhà mình.
Ví dụ giả định: một gia đình họ Mạch ở TP.HCM có bia ông cố ghi tên một làng thuộc huyện Khai Bình. Qua hội đồng hương người Khai Bình ở Hồng Kông, họ biết làng ấy nay đã nhập với làng bên cạnh. Người trong làng gửi ảnh trang gia phả, trong đó ghi một người cùng tên với ông cố "đi An Nam", năm đi khớp với lời kể của bà nội. Phải sau bước ấy gia đình mới coi là đã tìm ra quê. Trước đó, dù tên làng đã khớp, họ vẫn ghi trong bảng là "nhiều khả năng" chứ chưa ghi là chắc chắn.
Chuẩn bị trước khi về thăm quê tổ
Một chuyến về quê tổ có ý nghĩa lớn với nhiều gia đình, nhất là người lớn tuổi. Chuẩn bị kỹ giúp chuyến đi không thành chuyến du lịch hụt:
- Liên lạc trước với người trong làng hoặc người cùng quê làm đầu mối, qua hội đồng hương hoặc người quen; tránh đến tay không và hỏi ngẫu nhiên.
- Mang theo ảnh chụp bia mộ, bài vị, trang gia phả, bảng phả hệ có chữ Hán, và bài thơ phân đời nếu có.
- Học trước vài câu chào hỏi bằng phương ngữ của quê, hoặc đi cùng người nói được; người già ở làng thường không nói tiếng Phổ thông trôi chảy.
- Hỏi đầu mối về nếp của làng khi có khách từ xa về, để cư xử cho phải.
- Lo giấy tờ đi lại, thị thực, bản sao giấy tờ chứng minh quan hệ nếu cần; phần này xem ở danh mục giấy tờ của trang.
- Ghi chép, chụp ảnh, xin bản sao gia phả nếu được, và ghi lại thông tin liên lạc để giữ quan hệ sau chuyến đi.
Nên cảnh giác với người tự giới thiệu là "chuyên tìm thân nhân", đòi tiền trước mà không đưa ra chứng cứ cụ thể như trang gia phả hay ảnh từ đường. Việc nhận họ thật sự dựa trên tư liệu đối chiếu được, không dựa trên lời hứa.
Câu hỏi thường gặp
Bia chỉ ghi tên huyện, không có tên làng thì có tìm được làng không?
Có thể, nhưng khó hơn. Hãy tìm bia của những người cùng đời trong họ, gia phả, sổ hội quán, vì một trong số đó có thể ghi làng. Nếu không có, hỏi hội đồng hương của huyện đó về các làng có họ của mình; huyện nào cũng chỉ có vài làng mang họ đó làm họ chính.
Toishan, Sunwui, Hoiping trên giấy tờ cũ là nơi nào?
Đó là cách viết theo âm tiếng Quảng của các huyện Đài Sơn, Tân Hội, Khai Bình thuộc vùng Tứ Ấp, nay đều thuộc thành phố Giang Môn, Quảng Đông. Những dạng này hay gặp trong hồ sơ di trú cũ ở Mỹ, Canada, Úc vì lớp di dân sớm phần lớn từ vùng này.
Quê ghi là Triều Châu thì nay thuộc thành phố nào?
Vùng Triều Châu phủ xưa nay chia ra chủ yếu thuộc ba thành phố Triều Châu, Sán Đầu và Yết Dương ở phía đông Quảng Đông. Phải có tên huyện mới biết chính xác thuộc thành phố nào, ví dụ Trừng Hải thuộc Sán Đầu.
Có cần biết tiếng Phổ thông để về làng tìm họ hàng không?
Có ích nhưng không đủ. Người trẻ ở làng thường nói tiếng Phổ thông, còn người già, những người nhớ chuyện họ hàng đi xa, thường nói phương ngữ của vùng. Đi cùng người nói được phương ngữ quê mình là cách tốt nhất.
Làng quê tổ đã bị giải toả, nhập vào đô thị thì còn tìm được gì?
Từ đường và gia phả có khi vẫn còn, được dời về nơi khác hoặc do một gia đình trong họ giữ. Hội đồng hương và những người từng sống ở làng thường biết tin. Nhiều dòng họ còn lập nhóm liên lạc để giữ mối giữa những người đã tản đi.
Tìm được làng rồi thì có phải làm thủ tục gì với chính quyền ở đó không?
Việc thăm quê, gặp họ hàng là chuyện riêng của gia đình. Các thủ tục chỉ phát sinh khi đi lại qua biên giới hoặc khi cần giấy tờ chứng minh quan hệ cho việc khác. Nên hỏi cơ quan có thẩm quyền và theo quy định hiện hành của từng nơi.