Kết hôn tại Việt Nam với người Đài Loan, Hồng Kông, Singapore hay Malaysia là kết hôn có yếu tố nước ngoài, đăng ký tại UBND cấp xã nơi cư trú của bên là công dân Việt Nam. Mỗi bên chuẩn bị giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, giấy khám sức khoẻ về tâm thần và giấy tờ tuỳ thân; giấy của bên nước ngoài phải được hợp pháp hoá lãnh sự, trừ trường hợp được miễn, rồi dịch sang tiếng Việt.
Phần khác nhau giữa bốn nơi nằm ở giấy chứng minh độc thân mà mỗi nơi cấp, và ở những bước sau đăng ký: người Việt sang sống ở đó xin thị thực theo diện vợ chồng ra sao, có phỏng vấn không, có phải đăng ký lại hôn nhân ở nơi đó không. Bài viết nêu nguyên lý và các điểm hay vướng; danh mục giấy chính xác luôn đối chiếu với UBND cấp xã nơi nộp và cơ quan di trú của nơi sẽ đến.
Vì sao các cuộc hôn nhân này phổ biến trong gia đình gốc Hoa
Từ những thập niên cuối thế kỷ XX, nhiều gia đình người Hoa ở Việt Nam có họ hàng ở Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Malaysia, qua các đợt di cư và buôn bán từ lâu. Mối quan hệ họ hàng, hội đồng hương, công việc làm ăn khiến việc quen biết rồi kết hôn xuyên biên giới diễn ra tự nhiên. Ở các nơi đó, tiếng Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hẹ vẫn được dùng trong gia đình, nên người Hoa từ Việt Nam có lợi thế giao tiếp.
Cũng có nhiều người Việt không gốc Hoa kết hôn với người Đài Loan, phần lớn sau khi làm việc hoặc học tập ở đó. Bài viết này áp dụng cho cả hai trường hợp; phần riêng của gia đình gốc Hoa chủ yếu nằm ở tên chữ Hán và ở việc chứng minh quan hệ khi sau này bảo lãnh cha mẹ, anh chị em.
Một lưu ý quan trọng về pháp lý: Việt Nam cấm kết hôn giả tạo, tức kết hôn không nhằm xây dựng gia đình mà để xuất cảnh, nhập quốc tịch, hưởng chế độ ưu đãi. Các nơi nhận cũng có cơ chế phỏng vấn và xác minh. Mọi hướng dẫn dưới đây chỉ dành cho hôn nhân thật; không có cách "làm hồ sơ cho đẹp" nào thay được một mối quan hệ có thật và chứng minh được.
Giấy tờ phía công dân Việt Nam
Danh mục chung cho bên là công dân Việt Nam khi đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài tại UBND cấp xã:
- Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu, hai bên cùng ký hoặc mỗi bên khai một phần theo hướng dẫn của nơi nộp.
- Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do UBND cấp xã nơi thường trú cấp, ghi rõ mục đích "để kết hôn với…", còn hạn sử dụng tại thời điểm nộp. Người đã ly hôn kèm bản án, quyết định ly hôn đã có hiệu lực; người có vợ, chồng đã mất kèm trích lục khai tử.
- Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền rằng không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác dẫn đến không nhận thức, làm chủ được hành vi.
- Căn cước hoặc hộ chiếu còn hạn; giấy chứng minh nơi cư trú nếu dữ liệu dân cư chưa thể hiện.
- Nếu từng ly hôn ở nước ngoài, cần ghi chú việc ly hôn đó vào sổ hộ tịch Việt Nam trước, nếu không sẽ không xin được giấy xác nhận độc thân.
Kiểm tên trên mọi giấy phía Việt Nam phải giống hệt nhau, kể cả dấu. Đây là lúc tốt nhất để phát hiện và sửa lệch, trước khi tên đó được ghi vào giấy kết hôn và mang sang nước ngoài.
Giấy chứng minh độc thân của bên nước ngoài: mỗi nơi một kiểu
Phần khó nhất với bên nước ngoài thường là giấy chứng minh hiện không có vợ, chồng. Tên gọi và nơi cấp khác nhau; bảng dưới chỉ nêu dạng thường gặp, cần kiểm lại ở cơ quan có thẩm quyền nơi đó trước khi làm.
| Nơi | Dạng giấy thường gặp | Ghi chú |
|---|---|---|
| Đài Loan | Bản trích lục hộ tịch (hộ khẩu) thể hiện tình trạng hôn nhân | Xin ở văn phòng hộ tịch nơi đăng ký; sau đó xác nhận và hợp pháp hoá qua văn phòng kinh tế – văn hoá của Việt Nam tại Đài Bắc |
| Hồng Kông | Giấy xác nhận không có hồ sơ kết hôn do cơ quan đăng ký kết hôn cấp | Có thể kèm bản tuyên thệ độc thân theo yêu cầu phía Việt Nam |
| Singapore | Thường là bản tuyên thệ độc thân lập trước người có thẩm quyền | Nên làm đánh giá trước hôn nhân về thị thực dài hạn nếu dự định sống ở Singapore |
| Malaysia | Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân từ cơ quan đăng ký quốc gia, hoặc giấy do cơ quan đại diện Malaysia xác nhận | Người Malaysia kết hôn ở nước ngoài thường phải đăng ký lại hôn nhân với cơ quan của họ |
Mọi giấy trong bảng, khi dùng ở Việt Nam, phải được hợp pháp hoá lãnh sự (trừ khi được miễn) và dịch sang tiếng Việt có công chứng hoặc chứng thực. Thời hạn sử dụng của giấy độc thân là điểm hay bị trễ: giấy đi đường bưu điện, hợp pháp hoá, dịch mất vài tuần, đến lúc nộp đã quá hạn.
Trình tự từ chuẩn bị tới khi nhận giấy kết hôn
Thứ tự dưới đây là khung chung. Với Đài Loan và Singapore, nên tìm hiểu thủ tục thị thực vợ chồng ở bước 1, vì có nơi đặt điều kiện ngay từ trước khi cưới.
- Hai bên tìm hiểu thủ tục thị thực vợ chồng của nơi sẽ sống, các điều kiện về thu nhập, nhà ở, phỏng vấn, để tránh cưới xong mới phát hiện vướng.
- Bên nước ngoài xin giấy độc thân, giấy y tế, hợp pháp hoá theo yêu cầu, rồi gửi bản gốc về Việt Nam. Bên Việt Nam xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và giấy y tế.
- Dịch giấy nước ngoài sang tiếng Việt, công chứng hoặc chứng thực. Lập bảng đối chiếu tên của cả hai người trên mọi giấy.
- Nộp hồ sơ tại UBND cấp xã nơi cư trú của bên Việt Nam. Cơ quan có thể xác minh, phỏng vấn để làm rõ sự tự nguyện và hiểu biết lẫn nhau.
- Hai bên có mặt ký vào sổ và nhận giấy chứng nhận kết hôn. Kiểm từng chữ trên giấy trước khi ký.
- Hợp pháp hoá hoặc chứng nhận giấy kết hôn theo yêu cầu của nơi sẽ sống, rồi làm thủ tục thị thực vợ chồng và, nếu nơi đó yêu cầu, đăng ký hôn nhân tại cơ quan hộ tịch nơi đó.
Với Đài Loan, bên vợ hoặc chồng người Việt thường phải phỏng vấn tại văn phòng kinh tế – văn hoá của Đài Bắc đặt tại Việt Nam trước khi được cấp thị thực, rồi mới đăng ký hôn nhân tại văn phòng hộ tịch ở Đài Loan. Trình tự này có thể thay đổi; hỏi văn phòng đó trước khi bắt đầu.
Tên chữ Hán trên giấy kết hôn: chọn trước, dùng thống nhất
Giấy chứng nhận kết hôn Việt Nam ghi tên theo giấy tờ tuỳ thân: tên tiếng Việt của bên Việt Nam, tên theo hộ chiếu của bên nước ngoài. Người Đài Loan, Hồng Kông có tên chữ Hán trong giấy tờ của họ, nhưng hộ chiếu ghi tên phiên âm Latin, và mỗi nơi phiên âm một kiểu.
Ví dụ giả định: chồng là người Hồng Kông tên 陳家豪, hộ chiếu ghi "CHAN KA HO". Giấy kết hôn Việt Nam ghi "CHAN KA HO". Khi đăng ký ở Hồng Kông, giấy ghi cả chữ Hán. Vợ là người Hoa ở Việt Nam, tên trên giấy là Lý Mỹ Linh, tên chữ Hán trong gia đình là 李美玲. Nếu ở Hồng Kông, bên vợ khai thêm tên chữ Hán, nên dùng đúng ba chữ ấy ở mọi giấy về sau: thẻ cư trú, giấy khai sinh của con, hồ sơ ngân hàng.
Sự thống nhất này giúp rất nhiều về sau, khi con cần làm giấy tờ ở cả hai nơi, hay khi người vợ bảo lãnh cha mẹ sang thăm. Nên lưu một tờ ghi chú gia đình: tên tiếng Việt, tên phiên âm trên hộ chiếu, tên chữ Hán phồn thể, tên chữ Hán giản thể nếu cần, của từng thành viên.
Bên nước ngoài cũng nên kiểm tên cha mẹ mình trên giấy độc thân, giấy khai sinh có khớp với tên khai trong tờ khai kết hôn không. Ở nhiều gia đình Hồng Kông, Malaysia, tên trên giấy của cha mẹ lại theo cách phiên âm khác với tên của con, do thói quen của từng thời kỳ.
Những điểm hay vướng khi nộp và phỏng vấn
Ngôn ngữ chung. Cán bộ thường hỏi hai người nói chuyện với nhau bằng tiếng gì. Một cặp nói tiếng Quảng Đông với nhau là bình thường, nhưng nên trả lời thật và cụ thể, không cần cố tỏ ra nói giỏi tiếng Phổ thông hay tiếng Việt.
Chênh lệch tuổi lớn, quen qua người giới thiệu. Không bị cấm, nhưng làm cơ quan xem kỹ hơn. Chuẩn bị bằng chứng mối quan hệ tự nhiên: ảnh gặp gỡ qua nhiều thời điểm, tin nhắn, chuyến đi thăm nhau, người thân hai bên biết chuyện.
Giấy độc thân hết hạn. Tính thời gian ngược từ ngày nộp: giấy cần còn hạn khi nộp, không phải khi gửi đi. Nên xin giấy nước ngoài sau cùng, khi các giấy khác đã sẵn sàng, và hỏi trước thời hạn sử dụng mà nơi nộp chấp nhận cho loại giấy đó.
Giấy bên nước ngoài ghi tên cha mẹ theo phương ngữ khác. Rất hay gặp ở Malaysia, Singapore: tên cha phiên âm theo tiếng Phúc Kiến, tên con theo tiếng Quảng Đông hay bính âm. Cán bộ có thể hỏi; chuẩn bị sẵn một giấy giải thích hoặc giấy xác nhận của cơ quan nơi đó.
Môi giới hôn nhân có thu tiền. Hoạt động môi giới kết hôn nhằm mục đích kiếm lời bị cấm ở Việt Nam. Những lời mời "lo trọn gói lấy chồng Đài Loan" là dấu hiệu rủi ro cả về pháp lý lẫn an toàn của người phụ nữ.
Ví dụ giả định: một cặp TP.HCM – Penang đi từ đầu tới cuối
Chị Hạnh, người Hoa gốc Phúc Kiến ở phường Chợ Lớn (TP.HCM), quen anh Lim, người Malaysia gốc Phúc Kiến ở Penang, qua một chuyến về thăm họ hàng. Hai người nói với nhau bằng tiếng Phúc Kiến xen tiếng Anh. Sau hai năm qua lại, họ quyết định cưới ở TP.HCM rồi chị sang Penang sống.
Trước khi làm giấy, anh Lim hỏi cơ quan di trú Malaysia về thị thực dài hạn cho vợ, biết được các giấy cần có sau khi cưới. Anh xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân ở Malaysia, hợp pháp hoá theo đường của Malaysia rồi qua cơ quan đại diện Việt Nam, gửi bản gốc về. Chị Hạnh xin giấy xác nhận độc thân ở UBND phường nơi thường trú, khám sức khoẻ, lập bảng tên. Bảng tên phát hiện giấy khai sinh của anh ghi tên cha là "Lim Ah Kow" còn giấy độc thân lại ghi "Lim Ah Kau": anh xin thêm một giấy xác nhận hai tên là một người.
Hồ sơ nộp ở UBND phường, có một buổi trao đổi ngắn với cán bộ về việc hai người quen nhau thế nào. Nhận giấy kết hôn, chị chứng nhận lãnh sự giấy này rồi theo anh sang Penang, anh đăng ký hôn nhân với cơ quan của Malaysia theo hướng dẫn ở đó, chị nộp đơn thị thực dài hạn. Nhờ bảng tên làm từ đầu, mọi giấy tờ từ Việt Nam sang Malaysia đều ghi tên chị là "LY HANH" kèm tên chữ Hán 李杏 thống nhất. Trình tự trong ví dụ là minh hoạ; thủ tục thật luôn theo hướng dẫn hiện hành của từng nơi.
Câu hỏi thường gặp
Kết hôn ở Việt Nam hay ở Đài Loan thì tốt hơn?
Không có cách nào "tốt hơn" chung. Đăng ký ở Việt Nam thì giấy kết hôn đã nằm trong hộ tịch Việt Nam, sau đó làm tiếp thủ tục phía Đài Loan. Đăng ký ở nước ngoài thì phải làm ghi chú kết hôn khi về Việt Nam. Nên chọn theo nơi hai người sẽ sống và yêu cầu thị thực của nơi đó.
Người Hoa ở Việt Nam cưới người Đài Loan có được miễn phỏng vấn không?
Không có quy định miễn theo dân tộc. Phỏng vấn, nếu có, áp dụng theo quốc tịch và loại hồ sơ, không theo việc người nộp có gốc Hoa hay không. Lợi thế duy nhất là giao tiếp dễ hơn, giúp trả lời tự nhiên.
Bên nước ngoài không sang Việt Nam được lúc nộp hồ sơ thì sao?
Tờ khai có thể do một bên nộp, nhưng khi trao giấy chứng nhận kết hôn, cả hai bên phải có mặt để ký. Vì vậy cần sắp xếp ít nhất một chuyến sang Việt Nam vào lúc đăng ký.
Đã có con chung trước khi cưới thì làm giấy tờ thế nào?
Đăng ký kết hôn như bình thường. Riêng việc ghi tên cha trên khai sinh của con, nếu chưa có, làm thủ tục nhận cha mẹ con có yếu tố nước ngoài. Hai việc có thể làm gần nhau nhưng là hai thủ tục riêng.
Người Malaysia theo đạo Hồi kết hôn với người Việt có khác gì không?
Có khác ở phía Malaysia, vì hôn nhân của người Hồi giáo do hệ thống riêng quản lý, có điều kiện riêng về nghi thức. Phía Việt Nam vẫn áp dụng luật hôn nhân chung. Nên hỏi cơ quan đại diện Malaysia trước khi chuẩn bị giấy.
Sau khi cưới có phải đổi tên theo họ chồng không?
Luật Việt Nam không yêu cầu. Ở Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Malaysia, việc đổi họ sau kết hôn cũng không bắt buộc với đa số người. Nếu bạn muốn đổi ở nơi đó và luật nơi đó cho phép, có thể làm thủ tục thay đổi tương ứng ở Việt Nam.