Mạc Cửu (1655–1735) là người Lôi Châu, Quảng Đông, đến vùng ven vịnh Thái Lan vào cuối thế kỷ 17, mở mang thương cảng Hà Tiên, rồi năm 1708 xin thần thuộc chúa Nguyễn và được phong làm tổng binh trấn Hà Tiên. Con ông là Mạc Thiên Tứ tiếp quản trấn, mở nhóm văn thơ Chiêu Anh Các và để lại tập thơ vịnh mười cảnh Hà Tiên còn được nhắc đến hôm nay.
Hà Tiên nay là một phường thuộc tỉnh An Giang (trước đây thuộc Kiên Giang), nằm sát biên giới Campuchia. Câu chuyện họ Mạc là một ví dụ hiếm về một gia đình người Hoa đứng ra dựng cả một đô thị cảng. Bài kể lại hành trình ấy, những gì họ Mạc làm ở Hà Tiên, và những dấu vết người đến thăm có thể tìm.
Từ bán đảo Lôi Châu ra biển
Lôi Châu là bán đảo ở tận cùng phía tây nam tỉnh Quảng Đông, nhìn sang đảo Hải Nam. Vùng này từ lâu có nghề đi biển, buôn bán dọc bờ biển Đông Nam Á, và có nhiều người quen đường xuống phía nam.
Theo Hà Tiên trấn Hiệp trấn Mạc thị gia phả do Vũ Thế Dinh soạn đầu thế kỷ 19 và các bộ sử nhà Nguyễn, Mạc Cửu rời quê khi còn trẻ, trong khoảng những năm 1670–1680, sau khi nhà Minh mất và vùng ven biển quê ông không còn yên. Các nguồn ghi năm rời quê không hoàn toàn khớp nhau, nên người viết sử hôm nay thường chỉ nói "cuối thế kỷ 17".
Ông đi qua nhiều nơi trước khi dừng chân. Một số nguồn chép ông từng sống ở kinh đô Chân Lạp, được trọng dụng, rồi xin ra vùng đất ven biển gọi là Mang Khảm (người Hoa ghi là Phương Thành) để khai phá. Vùng ấy khi đó là bãi biển, đầm phá, rừng ngập mặn, dân cư thưa, có người Khmer, người Việt, người Hoa và người từ các đảo Mã Lai sinh sống lẫn nhau.
Dựng thương cảng ven vịnh Thái Lan
Mạc Cửu chiêu mộ lưu dân các nơi đến khẩn hoang, lập ra bảy xã thôn, mở chợ, đón thuyền buôn. Hà Tiên có đầm Đông Hồ kín gió và cửa biển thông ra vịnh Thái Lan, thuận cho thuyền từ Xiêm, Mã Lai, Java, Quảng Đông, Phúc Kiến ghé vào. Chẳng bao lâu nơi đây thành một thương cảng sầm uất, buôn gạo, cá khô, sáp ong, hồ tiêu, gỗ quý, ngà, và các hàng thủ công từ phương Bắc.
Điểm khác của Hà Tiên so với Cù lao Phố hay Mỹ Tho là cả thương cảng lẫn bộ máy cai quản đều nằm trong tay một gia đình người Hoa. Mạc Cửu vừa là người cầm đầu cộng đồng, vừa đứng ra quản lý cả vùng gồm nhiều dân tộc, đặt luật chợ, thu thuế thuyền, phân xử tranh chấp.
Người đến buôn bán ở Hà Tiên không chỉ là người Hoa. Ghi chép của các thương nhân phương Tây thế kỷ 18 nhắc đến Hà Tiên như một cảng tự do có người nhiều nước qua lại. Cảnh đó giúp hiểu vì sao văn hoá Hà Tiên đến nay vẫn pha trộn: có chùa Khmer, đình Việt, miếu Hoa, và món ăn mang dấu của cả ba.
Năm 1708: thần thuộc chúa Nguyễn
Năm 1708, Mạc Cửu sai người đem lễ vật ra Phú Xuân xin thần thuộc chúa Nguyễn Phúc Chu. Chúa nhận, đặt vùng đất này thành trấn Hà Tiên, phong Mạc Cửu chức tổng binh, tước Cửu Ngọc hầu.
Từ đây Hà Tiên trở thành một phần của xứ Đàng Trong, nhưng họ Mạc vẫn được giữ quyền tự quản khá rộng: tự tổ chức việc buôn bán, việc dân, việc phòng giữ. Mối quan hệ này kéo dài qua hai đời họ Mạc và là một điểm đặc biệt trong lịch sử Nam Bộ, khi một trấn biên do một gia đình gốc Hoa trông coi theo kiểu thế tập.
Mạc Cửu mất năm 1735, được an táng trên núi Bình San, người địa phương quen gọi là núi Lăng. Khu lăng mộ họ Mạc gồm mộ Mạc Cửu, mộ người thân và đền thờ họ Mạc ở chân núi, nay là di tích quốc gia của Hà Tiên. Đến đây vào buổi sáng có thể đi bộ quanh các bậc đá, xem kiến trúc mộ kiểu người Hoa với bình phong, tay ngai, và bia khắc chữ Hán.
Mạc Thiên Tứ và nhóm văn thơ Chiêu Anh Các
Con trai Mạc Cửu là Mạc Thiên Tứ (còn viết Mạc Thiên Tích, 1718–1780) được chúa Nguyễn cho nối chức năm 1736. Ông tiếp tục mở mang phố chợ, quy hoạch đường sá, và đặc biệt quan tâm đến văn học, giáo dục.
Năm 1736, Mạc Thiên Tứ lập Chiêu Anh Các, một nhóm văn thơ mời các văn nhân người Hoa và người Việt xướng hoạ. Năm 1737, ông làm mười bài thơ vịnh mười cảnh đẹp Hà Tiên, các thành viên Chiêu Anh Các hoạ lại, tập hợp thành Hà Tiên thập vịnh. Người ta thường xem đây là một trong những hoạt động văn học có tổ chức sớm nhất ở Nam Bộ.
Mười cảnh được vịnh gồm Kim Dự lan đào (sóng ở hòn Kim Dự), Bình San điệp thuý (núi Bình San xanh lớp lớp), Tiêu Tự thần chung (chuông sớm chùa Tiêu), Giang Thành dạ cổ (trống đêm Giang Thành), Thạch Động thôn vân (Thạch Động nuốt mây), Châu Nham lạc lộ (cò đậu Châu Nham), Đông Hồ ấn nguyệt (trăng in Đông Hồ), Nam Phố trừng ba (sóng lặng Nam Phố), Lộc Trĩ thôn cư (xóm Lộc Trĩ) và Lư Khê nhàn điếu (câu nhàn ở Lư Khê). Nhiều cảnh vẫn còn nhận ra được, nên du khách mê thơ hay đi tìm từng nơi.
Một đô thị nhiều dân tộc
Hà Tiên dưới thời họ Mạc là nơi sống chung của người Hoa, người Việt, người Khmer và người gốc Mã Lai. Mỗi nhóm giữ nếp riêng, cùng làm ăn trong một thương cảng. Họ Mạc dựng trường dạy chữ, mời thầy, lập chùa, xây đình, tổ chức chợ phiên; người Khmer có chùa của mình; người Việt lập xóm làm ruộng, đánh cá quanh đầm Đông Hồ.
Cách tổ chức này khiến Hà Tiên khác các phố người Hoa ở Chợ Lớn hay Hội An vốn là phố của người Hoa nằm trong một vùng đất do người khác cai quản. Ở Hà Tiên, chính gia đình người Hoa đứng ra tạo khung cho cả vùng, nên văn hoá Hoa thấm vào nhiều tầng sinh hoạt địa phương: tên cảnh, thơ văn, kiến trúc mộ, lối thờ cúng tổ tiên.
Ngày nay người Hoa ở Hà Tiên không còn đông như thời xưa so với tổng dân số, nhưng vẫn có hội quán, miếu và các gia đình lâu đời. Nhiều gia đình người Việt ở Hà Tiên cũng có ông bà gốc Hoa, và vẫn tảo mộ, cúng giỗ theo nếp đã hoà trộn qua nhiều đời.
Hà Tiên trong mạng lưới buôn bán vịnh Thái Lan
Muốn hiểu vì sao Hà Tiên lớn nhanh, cần nhìn vịnh Thái Lan như một vùng biển kín, có nhiều cảng nhỏ nối với nhau bằng thuyền buôn ven bờ. Phía tây bắc là các cảng của Xiêm như Chanthaburi, xa hơn là kinh đô Ayutthaya; phía bắc là Kampot và vùng ven biển Chân Lạp; phía đông là Rạch Giá, Cà Mau và các cửa sông miền Tây; ngoài khơi là đảo Phú Quốc.
Hà Tiên nằm ở điểm giao của những tuyến ấy. Thuyền ven bờ gom gạo, cá khô, sáp, hồ tiêu từ các vùng xung quanh về Hà Tiên; thuyền lớn từ Quảng Đông, Phúc Kiến đến theo gió mùa thì mua những hàng này và bán đồ gốm, tơ lụa, đồ sắt, thuốc bắc. Một thương cảng ở đúng chỗ giao tuyến và có người cầm đầu biết giữ chợ yên ổn thì thu hút thương nhân rất nhanh.
Mạng lưới này cũng giải thích vì sao người Hoa có mặt dày ở cả dải ven biển từ Hà Tiên tới Kampot, Rạch Giá, Phú Quốc trong thế kỷ 18–19, và vì sao nhiều gia đình ở đây có họ hàng ở Campuchia, Thái Lan. Với người tìm gốc, đó là lời nhắc rằng một nhánh họ ở Hà Tiên có thể có những nhánh khác bên kia biên giới, nối với nhau qua thương thuyền ngày trước.
Câu chuyện họ Mạc có ý nghĩa gì với người Hoa hôm nay
Với nhiều người Hoa ở Nam Bộ, họ Mạc là ví dụ đầu tiên được sử sách ghi rõ về một gia đình người Hoa vừa giữ chữ nghĩa, nếp nhà của quê cha, vừa gắn đời mình với vùng đất mới. Thơ Chiêu Anh Các viết bằng chữ Hán theo lối thơ Đường, nhưng vịnh sông núi Hà Tiên, chuông chùa, trống thành, xóm chài ở đây. Giới nghiên cứu văn học Việt Nam thường xếp Hà Tiên thập vịnh vào dòng văn học Nam Bộ thời kỳ đầu.
Sự kết hợp ấy gần với trải nghiệm của nhiều gia đình người Hoa ở Việt Nam và ở nước ngoài hôm nay: ở nhà nói tiếng của ông bà, ra đường nói tiếng của nơi mình sống, và coi cả hai là của mình. Người lớn kể chuyện họ Mạc cho con cháu thường không nhằm khoe một dòng họ nổi tiếng, mà để nói rằng giữ gốc và gắn bó với nơi ở không phải hai lựa chọn loại trừ nhau.
Khi kể, nên tránh tô vẽ họ Mạc thành nhân vật huyền thoại hay biến câu chuyện thành chuyện hơn thua giữa các nhóm. Hà Tiên thời họ Mạc là đô thị của nhiều dân tộc cùng góp sức; giá trị của câu chuyện nằm chính ở chỗ ấy.
Đến Hà Tiên tìm dấu họ Mạc
Khu lăng mộ họ Mạc trên núi Bình San. Đi buổi sáng để tránh nắng. Khu lăng có nhiều ngôi mộ cổ của người trong họ Mạc và người thân thuộc, nên đi chậm, giữ yên lặng như ở một nghĩa trang gia tộc.
Đền thờ họ Mạc ở chân núi. Đền thờ Mạc Cửu và các đời sau, có hoành phi, câu đối chữ Hán. Hỏi người trông đền nếu muốn biết ý nghĩa từng tấm, hoặc chụp ảnh rõ để nhờ người đọc chữ Hán dịch sau.
Đầm Đông Hồ. Nơi từng là bến đỗ của thương cảng. Đứng bên bờ lúc chiều tối sẽ dễ hình dung cảnh "Đông Hồ ấn nguyệt" trong thơ Chiêu Anh Các.
Thạch Động và chùa Phù Dung. Thạch Động là một trong mười cảnh được vịnh. Chùa Phù Dung gắn với các câu chuyện thời họ Mạc; khi đến nên phân biệt điều được sử chép và điều truyền khẩu.
Đọc trước khi đi. Một bản dịch Hà Tiên thập vịnh và một bài nghiên cứu ngắn về họ Mạc sẽ làm chuyến đi khác hẳn. Thư viện tỉnh và các tạp chí nghiên cứu lịch sử Nam Bộ có nhiều tư liệu.
Câu hỏi thường gặp
Mạc Cửu là người ở đâu?
Mạc Cửu là người Lôi Châu, một bán đảo ở phía tây nam tỉnh Quảng Đông. Ông rời quê vào khoảng cuối thế kỷ 17, đi qua nhiều nơi rồi dừng lại khai phá vùng ven vịnh Thái Lan, nơi về sau thành trấn Hà Tiên.
Hà Tiên thuộc tỉnh nào sau khi sắp xếp năm 2025?
Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính từ tháng 7 năm 2025, Hà Tiên là một phường thuộc tỉnh An Giang. Trước đó Hà Tiên là thành phố của tỉnh Kiên Giang. Khi đọc tài liệu cũ, cần để ý tên tỉnh đã đổi.
Mạc Cửu thần thuộc chúa Nguyễn năm nào?
Năm 1708, Mạc Cửu cử người ra Phú Xuân dâng lễ xin thần thuộc chúa Nguyễn Phúc Chu. Chúa đặt vùng đất này thành trấn Hà Tiên và phong ông làm tổng binh, tước Cửu Ngọc hầu, cho họ Mạc tiếp tục trông coi trấn.
Chiêu Anh Các là gì?
Chiêu Anh Các là nhóm văn thơ do Mạc Thiên Tứ lập năm 1736 ở Hà Tiên, quy tụ văn nhân người Hoa và người Việt xướng hoạ. Sản phẩm nổi tiếng nhất là tập Hà Tiên thập vịnh, gồm thơ vịnh mười cảnh Hà Tiên và các bài hoạ.
Lăng Mạc Cửu ở đâu, có tham quan được không?
Lăng nằm trên núi Bình San, người địa phương gọi là núi Lăng, ngay trong khu vực Hà Tiên. Khu lăng mộ và đền thờ họ Mạc mở cho khách tham quan; nên ăn mặc lịch sự, giữ yên lặng và không leo lên mộ để chụp ảnh.
Họ Mạc ở Hà Tiên có còn con cháu không?
Sử sách và gia phả ghi họ Mạc có nhiều đời con cháu, một phần vẫn sống ở Nam Bộ. Tuy vậy, thông tin về từng nhánh hiện nay không đầy đủ; người muốn tìm hiểu nên bắt đầu từ ban quản lý đền thờ và các công trình nghiên cứu về họ Mạc.