HoaKieu.comHoa Kiều
Người Hoa ở Việt Nam theo vùng

Người Hoa ở Hội An: từ phố Khách thời thương cảng đến làng Minh Hương và nhà phố gỗ

Người Hoa đến Hội An từ cuối thế kỷ 16, lập phố Khách, rồi làng Minh Hương. Phố hình thành ra sao, nhà phố gỗ đọc thế nào, cộng đồng hôm nay còn giữ những gì.

Over-the-shoulder view of an elderly woman sweeping the tiled floor of a narrow wooden shophouse courtyard, morning light through a skylight, potted plants, faces hidden

Người Hoa có mặt ở Hội An (nay thuộc Đà Nẵng) từ cuối thế kỷ 16, khi thuyền buôn Phúc Kiến, Quảng Đông theo gió mùa đến mua bán; một phần ở lại lập phố Khách, sau năm 1644 có thêm lớp người lập làng Minh Hương. Phần lớn dãy nhà phố gỗ, hội quán và nhà thờ tộc làm nên vẻ đẹp phố cổ hôm nay là do cộng đồng này dựng và giữ qua ba bốn thế kỷ.

Điều đáng biết là cộng đồng ấy có hai lớp: lớp Minh Hương đã hoà vào người Việt từ lâu, và lớp người Hoa đến sau, giữ tiếng nói và tổ chức theo bang. Bài này kể Hội An từng là phố của ai, đọc một ngôi nhà phố ra sao, và người gốc Hoa ở Hội An hôm nay sống thế nào ngoài vai trò "phố cổ cho du khách".

Hội An thời thương cảng: chợ phiên theo gió mùa

Thế kỷ 16–17, Hội An, người phương Tây gọi là Faifo, là thương cảng lớn nhất xứ Đàng Trong. Thuyền buôn từ các cảng Hoa Nam, Nhật Bản, Xiêm, rồi Bồ Đào Nha, Hà Lan đến theo gió mùa đông bắc đầu năm và về theo gió mùa tây nam giữa năm. Trong mấy tháng thuyền neo đậu, Hội An như một chợ phiên khổng lồ: tơ lụa, đường, trầm hương, yến sào, gốm sứ, đồng, giấy được mua bán, đổi chác.

Cách buôn theo mùa ấy đẻ ra nhu cầu có người ở lại quanh năm: giữ kho, thu gom hàng trước khi thuyền đến, làm môi giới, thông ngôn. Người Nhật lập một khu phố, người Hoa lập một khu phố, hai khu nằm cạnh nhau bên sông Hoài. Chiếc cầu có mái mà nay quen gọi là Chùa Cầu được cho là nối hai khu phố ấy; tên Lai Viễn kiều do chúa Nguyễn Phúc Chu đặt đầu thế kỷ 18.

Thương nhân Hoa có lợi thế ở chỗ họ nắm cả hai đầu của tuyến buôn: quan hệ với các xưởng tơ, xưởng gốm ở quê, và quan hệ với người thu gom hàng ở Đàng Trong. Các ghi chép của người phương Tây thế kỷ 17 tả Hội An có những dãy nhà gạch của người Hoa chạy dọc bờ sông, mỗi nhà vừa là tiệm, vừa là kho, vừa là chỗ ở cho người làm.

Từ giữa thế kỷ 17, khi Nhật Bản đóng cửa với bên ngoài, phố Nhật vắng dần, còn phố Khách tiếp tục lớn. Đến thế kỷ 18, người Hoa là cộng đồng buôn bán chính ở Hội An, với các bang Phúc Kiến, Quảng Đông, Triều Châu, Hải Nam và hội quán chung của năm bang.

Làng Minh Hương: người ở lại thành người Việt

Sau năm 1644, khi nhà Minh sụp đổ, nhiều người Hoa ở lại Đàng Trong không về nữa. Chúa Nguyễn cho họ lập làng riêng, gọi là Minh Hương, nghĩa gốc là "giữ hương hoả nhà Minh". Làng Minh Hương ở Hội An là một trong những làng sớm nhất, có đình, có nhà thờ tiền hiền và sổ đinh riêng.

Người Minh Hương có địa vị khác người Hoa đến sau: họ được coi như dân bản xứ, có thể đi thi, làm quan, lấy vợ người Việt, con cái mang họ cha nhưng nói tiếng Việt. Qua vài đời, đa số trở thành người Việt về tiếng nói và nếp sống, chỉ còn giữ họ, bài vị ghi quê gốc và lễ cúng tiền hiền.

Ở Hội An hôm nay vẫn còn Minh Hương Tụy Tiên đường, nơi thờ các vị tiền hiền của làng. Nhiều gia đình ở phố cổ khi được hỏi gốc gác sẽ nói nhà mình "gốc Minh Hương" và ghi dân tộc Kinh trên giấy tờ. Đây là lý do số người ghi dân tộc Hoa ở Hội An không lớn, trong khi dấu ấn văn hoá Hoa trong phố lại rất đậm.

Lớp người Hoa đến sau: các bang thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20

Bên cạnh người Minh Hương, Hội An còn đón những lớp người Hoa đến muộn hơn, chủ yếu thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Họ không nhập làng Minh Hương mà được tổ chức theo bang, giữ tiếng Phúc Kiến, Quảng Đông, Triều Châu, Hải Nam trong nhà, cho con học ở trường của bang và lấy vợ chồng trong cộng đồng nhiều hơn.

Lớp người này làm nghề buôn thuốc bắc, vải, đồ khô, đồ sứ, mở tiệm cầm đồ, tiệm may, xưởng làm đèn lồng, làm nhang. Nhiều ngôi nhà phố mà khách tham quan ngày nay vốn là cửa hiệu của các gia đình bang thời ấy, với quầy gỗ, tủ hộc đựng hàng và tầng trên để ở.

Sự khác nhau giữa hai lớp người vẫn còn thấy trong lời ăn tiếng nói. Một cụ bà gốc Minh Hương nói giọng Quảng Nam thuần, tự nhận là người Việt có gốc Hoa; một cụ bà thuộc gia đình bang Quảng Đông có thể vẫn đếm tiền, mắng con bằng tiếng Quảng. Cả hai đều có thể sống trên cùng một dãy phố, cùng đi lễ ở hội quán dịp Nguyên Tiêu.

Ví dụ giả định: một gia đình họ Lâm có nhà trên phố cổ, ông cố đến từ Phúc Kiến khoảng năm 1900, con cháu sinh ra ở Hội An, học trường Việt, lấy vợ người Việt. Đến đời chắt, gia đình ghi dân tộc Kinh hay Hoa còn tuỳ từng người, và câu chuyện ấy là chuyện thường thấy ở phố cổ.

Đọc một ngôi nhà phố gỗ của người Hoa

Mặt tiền hẹp, thân nhà sâu. Nhà phố Hội An thường rộng vài mét nhưng sâu hàng chục mét, chạy từ phố chính ra tận bờ sông. Ngày trước, mặt trước làm cửa hàng, phía sau là kho và bến ghe để nhận hàng thẳng từ thuyền.

Giếng trời ở giữa. Một khoảng sân lộ thiên chia nhà làm hai, lấy sáng và gió, có bể nước, chậu cây. Đây là nét quen của nhà phố vùng duyên hải Phúc Kiến, Quảng Đông, được điều chỉnh cho khí hậu mưa nắng miền Trung.

Khung gỗ chạm. Kèo, xà, cột chạm hoa văn, nhiều nhà có kết cấu "chồng rường" kiểu Hoa phối với kỹ thuật thợ mộc Kim Bồng địa phương. Đó là chứng tích của sự hợp tác giữa chủ nhà người Hoa và thợ người Việt.

Gác lửng và ván sàn rời. Tầng trên thường có ván sàn có thể tháo ra để kéo hàng lên khi nước lụt. Nước lũ sông Hoài, sông Thu Bồn hằng năm làm nên chi tiết này, và nhà nào có vạch nước cũ trên cột là dấu một thời người ở chung với lũ.

Bàn thờ và hoành phi. Gian giữa đặt bàn thờ tổ tiên, hoành phi, câu đối chữ Hán. Câu đối ghi quê gốc, đức tính răn dạy con cháu; người biết chữ Hán đọc được cả gốc gác gia đình qua mấy chữ treo trên cao.

Năm hội quán và vai trò của từng bang

Hội An có năm hội quán: Phúc Kiến, Quảng Triệu (của người Quảng Đông), Triều Châu, Hải Nam và hội quán Trung Hoa chung cho năm bang. Hội quán Phúc Kiến lớn nhất, thờ Thiên Hậu, cho thấy người Phúc Kiến đến sớm và mạnh. Mỗi hội quán là nơi thờ tự, nơi họp bàn việc chung và nơi giúp người cùng quê mới đến.

Ngày nay, các hội quán vừa là di tích mở cửa cho khách tham quan, vừa vẫn là nơi cộng đồng sinh hoạt. Vào rằm tháng Giêng, các hội quán tổ chức lễ Nguyên Tiêu, người gốc Hoa từ nhiều nơi về dự. Phần sinh hoạt này ít khách thấy vì diễn ra sáng sớm hoặc tối muộn, ngoài giờ tham quan.

Vì chuyện hội quán và tổ chức bang đã có bài riêng trong chuyên mục hội quán, ở đây chỉ nhấn một điểm: đi Hội An, hãy nhìn hội quán như văn phòng của một cộng đồng buôn bán, không chỉ như một ngôi miếu đẹp. Bia ghi tên người góp tiền trùng tu, ghi quê và số tiền, là nguồn tư liệu quý cho con cháu tìm gốc.

Vì sao thương cảng lui về sau và phố được giữ lại

Từ cuối thế kỷ 18 sang thế kỷ 19, cửa sông bồi lắng, thuyền lớn khó vào; tàu buôn chuyển dần sang cảng Đà Nẵng nước sâu hơn. Hội An mất vai trò cảng biển, thành một thị xã buôn bán nhỏ. Không ai có lý do phá nhà cũ xây nhà mới, nên dãy nhà phố gỗ đứng nguyên qua thế kỷ 20.

Chính sự "đứng yên" ấy làm Hội An đặc biệt. Năm 1999, phố cổ được UNESCO ghi danh là Di sản văn hoá thế giới, như một ví dụ còn nguyên vẹn về thương cảng truyền thống Đông Nam Á, nơi các nền văn hoá Việt, Hoa, Nhật, phương Tây giao nhau. Hầu hết những ngôi nhà trong khu được bảo tồn là nhà phố gỗ kiểu người Hoa.

Một hệ quả ít người để ý: vì Hội An ngủ yên suốt gần hai thế kỷ, các hội quán và nhà thờ tộc ở đây giữ được nhiều hoành phi, bia, sổ sách cũ hơn những nơi bị đô thị hoá nhanh như Chợ Lớn. Với giới nghiên cứu người Hoa ở Việt Nam, Hội An là một kho tư liệu sống, nơi có thể đối chiếu tên người trên bia với sổ đinh làng Minh Hương và gia phả các họ.

Từ du lịch, nhiều gia đình gốc Hoa ở phố cổ cho thuê mặt tiền hoặc tự mở cửa hàng, quán ăn; một số chuyển ra khu mới sống, chỉ giữ nhà cũ làm nơi thờ tự. Nếp sống cộng đồng vì vậy không còn đậm như thời trước, nhưng các ngày lễ ở hội quán và nhà thờ tộc vẫn tề tựu đông đủ.

Đi Hội An để hiểu người Hoa, không chỉ chụp ảnh

Vài gợi ý để chuyến đi phố cổ có thêm chiều sâu về cộng đồng người Hoa:

  • Đi bộ phố cổ lúc sáng sớm, trước giờ khách đông, để thấy người trong phố quét sân, thắp hương, mở cửa tiệm; đó mới là nhịp sống thật của nhà phố.
  • Vào một hội quán và đọc kỹ bia trùng tu; nhờ người trông coi giải thích các câu đối, hỏi hội quán còn tổ chức lễ gì trong năm.
  • Ghé Minh Hương Tụy Tiên đường để hiểu lớp người Minh Hương, khác với các hội quán của người Hoa đến sau.
  • Tham quan một ngôi nhà cổ còn người ở, chú ý giếng trời, ván sàn gác lửng và vạch nước lụt trên cột.
  • Ăn món địa phương có gốc gác giao thoa như cao lầu, hoành thánh chiên; câu chuyện nguồn gốc các món này còn nhiều giả thuyết, không nên nghe một nguồn mà tin chắc.
  • Nếu đi dịp rằm tháng Giêng, tham dự lễ Nguyên Tiêu ở hội quán với tư cách khách: ăn mặc kín đáo, đứng ở chỗ được chỉ, hỏi trước khi chụp người đang làm lễ.

Người có ông bà gốc Hội An nên mang theo ảnh bài vị, tên chữ Hán của ông bà nếu có; ban quản lý hội quán và các cụ trong làng Minh Hương đôi khi nhận ra họ tộc qua những chi tiết rất nhỏ.

Câu hỏi thường gặp

Hội An hiện nay thuộc tỉnh nào?

Từ tháng 7/2025, Hội An thuộc thành phố Đà Nẵng sau khi tỉnh Quảng Nam hợp nhất vào Đà Nẵng. Khu phố cổ vẫn giữ tên Hội An và vẫn là di sản thế giới được UNESCO ghi danh năm 1999.

Người Minh Hương ở Hội An có còn nói tiếng Hoa không?

Hầu như không. Người Minh Hương đã hoà vào người Việt từ nhiều đời, nói tiếng Việt và phần lớn ghi dân tộc Kinh. Họ giữ lại họ, bài vị, lễ cúng tiền hiền và ý thức về gốc gác, nhưng tiếng nói hằng ngày là tiếng Việt Quảng Nam.

Chùa Cầu có phải do người Hoa xây không?

Chùa Cầu thường được cho là do cộng đồng thương nhân Nhật xây cuối thế kỷ 16 hoặc đầu thế kỷ 17, nối khu phố Nhật với khu phố Khách. Qua nhiều lần trùng tu, công trình mang thêm nét kiến trúc Việt và Hoa. Tên Lai Viễn kiều do chúa Nguyễn Phúc Chu đặt.

Hội An có bao nhiêu hội quán người Hoa?

Có năm hội quán chính: Phúc Kiến, Quảng Triệu, Triều Châu, Hải Nam và hội quán Trung Hoa của năm bang. Ngoài ra còn các miếu, nhà thờ tộc của các dòng họ gốc Hoa. Đa số đều mở cửa cho khách tham quan theo vé phố cổ.

Nhà cổ ở Hội An còn người ở không?

Nhiều nhà vẫn còn con cháu ở hoặc giữ làm nơi thờ tự, kể cả những nhà mở cửa cho khách tham quan. Khi vào nhà có người ở, nên đi nhẹ, nói nhỏ, không tự ý mở các gian phía sau và không chụp bàn thờ khi chưa được phép.

Muốn tìm gốc gia đình Minh Hương ở Hội An thì làm sao?

Bắt đầu từ bài vị, gia phả, bia mộ của gia đình để có tên chữ Hán và đời thứ. Sau đó hỏi ban quản lý Minh Hương Tụy Tiên đường và các nhà thờ tộc có cùng họ. Kết quả tuỳ vào việc gia đình còn giữ được bao nhiêu giấy tờ cũ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.