HoaKieu.comHoa Kiều
Người Hoa ở Việt Nam theo vùng

Nghề buôn của người Hoa ở Việt Nam thời trước: gạo, thuốc bắc, vải và tiệm chạp phô

Vì sao nhiều gia đình người Hoa ở Việt Nam sống bằng nghề buôn? Chuỗi lúa gạo, tiệm thuốc bắc, chợ vải, tiệm chạp phô vận hành ra sao và hôm nay còn lại gì.

Close view of hands weighing dried herbs on a small brass scale over a wooden counter, rows of small drawers behind, warm lamp light

Thời trước, nhiều gia đình người Hoa ở Việt Nam sống bằng bốn nhóm nghề buôn chính: thu mua và xay xát lúa gạo, buôn thuốc bắc, buôn vải, và mở tiệm tạp hoá mà người Nam Bộ gọi là tiệm chạp phô. Ngoài ra còn đồ khô, đồ sứ, vàng bạc, tiệm ăn, tiệm may và hàng trăm nghề nhỏ khác ở các phố chợ.

Lý do không nằm ở "thiên bẩm" nào, mà ở hoàn cảnh: người Hoa đến Việt Nam phần nhiều là thương nhân và người làm thuê không có ruộng, có mạng đồng hương nối các chợ với các cảng, và có tổ chức bang giúp người mới học việc, hùn vốn. Bài này đi qua từng nghề, cách chúng vận hành ngày trước và dấu vết còn lại trên phố hôm nay.

Vì sao nghề buôn gắn với nhiều gia đình người Hoa

Nhìn vào lịch sử di cư sẽ thấy câu trả lời. Những người Hoa đến Hội An, Cù lao Phố, Hà Tiên thế kỷ 17–18 vốn là thương nhân đi thuyền; lớp đến thế kỷ 19 phần nhiều là người nghèo đi làm thuê, không có ruộng đất ở nơi mới. Với người không có đất, buôn bán nhỏ, làm thuê ở tiệm, làm thợ là con đường sống dễ nhất.

Yếu tố thứ hai là mạng lưới. Một chủ tiệm người Hoa ở chợ quê có thể lấy hàng chịu từ người cùng quê ở Chợ Lớn, người ở Chợ Lớn lại có quan hệ với nhà buôn ở Hồng Kông, Singapore. Mạng đồng hương giảm rủi ro và chi phí giao dịch, cho phép buôn bán xa mà không cần nhiều giấy tờ.

Yếu tố thứ ba là tổ chức. Bang và hội quán giúp người mới tìm chỗ học việc, đứng ra bảo lãnh, phân xử tranh chấp. Người trẻ đi học việc ở tiệm của người cùng quê nhiều năm, rồi được giúp vốn mở tiệm riêng.

Cũng cần nói rõ: người Hoa ở Việt Nam làm đủ mọi nghề, từ thợ, công nhân, nông dân, ngư dân, đến thầy thuốc, giáo viên. Người Việt, người Khmer, người Ấn, người Chăm cũng buôn bán sầm uất ở các chợ. Mô tả dưới đây là về những nghề nổi bật, không phải để gán một tính cách cho cả cộng đồng.

Lúa gạo: từ chành quê đến nhà máy xay Chợ Lớn

Cuối thế kỷ 19, lúa gạo Nam Kỳ thành hàng xuất khẩu lớn. Chuỗi buôn gạo khi ấy có nhiều tầng: nông dân bán lúa cho chành ở đầu kênh; chành bán cho nhà buôn lớn hơn; lúa được chở bằng ghe chài về Chợ Lớn; nhà máy xay chạy hơi nước dọc kênh Tàu Hũ, kênh Bến Nghé xay thành gạo; gạo được bán cho các hãng xuất khẩu đưa ra cảng Sài Gòn.

Ở nhiều khâu của chuỗi ấy có người Hoa: chủ chành, chủ ghe, chủ nhà máy xay, người môi giới. Các nghiên cứu về kinh tế Nam Kỳ thời Pháp đều ghi nhận phần lớn nhà máy xay ở Chợ Lớn thuộc về thương nhân người Hoa. Khu Bình Tây, nơi có chợ Bình Tây do thương gia Quách Đàm xây cuối thập niên 1920, từng là trung tâm của chuỗi này.

Nghề gạo cần vốn lớn, cần biết đoán mùa, đoán giá, và cần mạng người tin cậy ở các tỉnh. Một chủ nhà máy xay có thể có hàng chục chành quen ở miền Tây, mỗi chành là một gia đình cùng bang. Tin tức giá lúa đi theo ghe, theo thư, rồi theo điện tín.

Đời sống quanh nhà máy xay cũng là một thế giới riêng: phu khuân vác vác bao gạo từ ghe lên kho, người đong lúa, thợ máy, người ghi sổ, quán cơm cho công nhân. Nhiều người trong số đó là người Việt từ miền Tây lên, làm chung với người Hoa trong cùng một chuỗi việc, và nhiều gia đình hai bên nên thông gia từ những quan hệ ấy.

Ngày nay, xay xát và xuất khẩu gạo đã chuyển sang mô hình công nghiệp, kho hiện đại và đường bộ. Dọc kênh Tàu Hũ, các nhà máy xay cũ hầu hết không còn, chỉ vài kho cũ và những bến bãi đã đổi mục đích là dấu vết của thời ấy.

Thuốc bắc: những con phố có mùi dược liệu

Ở TP.HCM, phố Hải Thượng Lãn Ông và các phố quanh đó ở khu Chợ Lớn là nơi tập trung tiệm thuốc bắc; ở Hà Nội là phố Lãn Ông trong phố cổ. Tên phố đặt theo danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, nhưng nghề buôn dược liệu ở đây gắn nhiều với các hiệu thuốc của người Hoa.

Một tiệm thuốc bắc truyền thống có mặt tiền hẹp, sâu vào trong là kho. Sau quầy là tủ gỗ nhiều ngăn kéo nhỏ, mỗi ngăn một vị thuốc; người bán dùng cân tay nhỏ để cân từng vị, gói vào giấy theo thang. Dược liệu nhập về theo đường biển, qua các nhà buôn ở Hồng Kông, rồi được phân phối cho tiệm ở các tỉnh.

Nghề thuốc bắc cần học lâu: nhận biết hàng trăm vị, biết sơ chế, bảo quản, biết hàng thật hàng giả. Người học việc thường bắt đầu từ việc quét dọn, phơi thuốc, gói thuốc, sau nhiều năm mới được đứng quầy. Một số hiệu thuốc có thầy thuốc ngồi khám tại tiệm.

Quanh tiệm thuốc là cả một hệ nghề phụ: người sao tẩm, thái lát dược liệu, người làm hộp, in giấy gói, người chở hàng từ cảng về. Nhiều gia đình trong hẻm sống bằng những công đoạn nhỏ ấy suốt mấy đời.

Hôm nay, phố thuốc bắc ở cả hai thành phố vẫn hoạt động, nhưng nhiều tiệm đã chuyển sang bán buôn, bán thực phẩm khô, hoặc kết hợp bán hàng trực tuyến. Đi qua những con phố này buổi sáng, vẫn ngửi thấy mùi dược liệu phơi trên vỉa hè, một mùi rất riêng của khu phố người Hoa.

Vải vóc và tiệm may: từ Hàng Ngang đến chợ vải Chợ Lớn

Buôn vải là nghề lâu đời của người Hoa ở cả hai miền. Ở Hà Nội, phố Hàng Ngang từng có nhiều hiệu vải, tơ lụa của thương nhân người Hoa. Ở Chợ Lớn, khu chợ vải Soái Kình Lâm là đầu mối bán buôn vải lớn, nơi các tiểu thương ở các tỉnh lên lấy hàng.

Chuỗi vải ngày trước bắt đầu từ hàng nhập khẩu qua cảng, sau đó có thêm vải dệt trong nước ở các xưởng dệt nhỏ, nhiều xưởng do người Hoa làm chủ, đặt ở các quận ven Chợ Lớn. Từ chợ vải, hàng đi về các tiệm may, các chợ quê, các sạp vải ở miền Tây, miền Trung.

Gắn với vải là nghề may đo. Nhiều tiệm may người Hoa nổi tiếng may áo dài, đồ tây, sườn xám, đồ cưới. Người thợ may được đào tạo qua học việc lâu năm, biết đo, cắt, may tay những chi tiết khó. Một số tiệm may lâu đời đến nay vẫn còn, do con cháu đời thứ ba, thứ tư giữ.

Chợ vải hôm nay vẫn hoạt động, nhưng hàng hoá đa dạng hơn, có cả vải nhập từ nhiều nước, và nhiều chủ sạp không phải người Hoa. Không gian chợ đông đúc, những cuộn vải xếp chồng cao đến trần, vẫn là cảnh quen thuộc của khu phố này.

Tiệm chạp phô và những nghề nhỏ ở phố chợ

Bên cạnh các nghề lớn, phố người Hoa có vô số nghề nhỏ. Bảng dưới gom vài nghề phổ biến thời trước, nơi thường gặp và dấu vết còn lại.

NghềNơi thường gặpDấu vết hôm nay
Tiệm chạp phô (tạp hoá)Đầu chợ quê khắp Nam BộTiệm tạp hoá gia đình, nhiều nơi chuyển thành cửa hàng tiện lợi
Đồ khô, hải sản khôHàng Buồm (Hà Nội), Chợ Lớn, Rạch GiáCác sạp đồ khô trong chợ, rộn ràng dịp Tết
Lò bánh, lò mìMọi phố người HoaBánh bao, bánh pía, mì trứng, xá xíu
Vàng bạcChợ Lớn, các chợ tỉnhTiệm vàng gia đình lâu năm
Đồ sứ, đồ gốmChợ Lớn, Biên Hoà, Bình Dương cũLò gốm Lái Thiêu, Biên Hoà; sạp đồ sứ
Làm nhang, đèn lồngChợ Lớn, Hội AnPhố lồng đèn ở Chợ Lớn, xưởng đèn Hội An

Chữ "chạp phô" là cách người Nam Bộ đọc theo âm Triều Châu, Quảng Đông của chữ tạp hoá. Tiệm chạp phô ở chợ quê bán dầu, muối, đường, nước mắm, vải, kim chỉ, thuốc lá, và thường cho bà con mua chịu đến mùa lúa, ghi vào sổ.

Nhiều nghề trong bảng đã vượt khỏi cộng đồng người Hoa. Lò gốm, tiệm vàng, sạp đồ khô hôm nay có chủ thuộc nhiều dân tộc, nhưng nhiều kỹ thuật và tên gọi vẫn mang gốc từ những người thợ, người buôn đầu tiên.

Học việc, hùn vốn và chữ tín: tiệm buôn xưa vận hành ra sao

Học việc nhiều năm. Thiếu niên từ quê sang hoặc con nhà nghèo trong phố vào học việc ở tiệm, ăn ở tại tiệm, làm từ việc nhỏ nhất. Sau vài năm biết hàng, biết khách, biết sổ sách mới được tin giao việc lớn.

Hùn vốn theo đồng hương. Mở tiệm mới thường dựa vào vốn hùn của vài người cùng quê, hoặc vốn chịu hàng của nhà buôn lớn. Quan hệ đồng hương đóng vai trò như một kiểu bảo lãnh.

Sổ sách và bàn tính. Tiệm buôn xưa ghi sổ bằng chữ Hán, tính bằng bàn tính gẩy. Người lớn tuổi ở Chợ Lớn còn nhớ tiếng lách cách của bàn tính trong các hiệu buôn lớn.

Tên hiệu buôn. Mỗi tiệm có tên hiệu, thường hai ba chữ Hán mang ý tốt đẹp, treo trên biển gỗ. Tên hiệu là tài sản, được giữ qua nhiều đời và gắn với uy tín.

Chữ tín. Trong mạng lưới không có nhiều giấy tờ, giữ chữ tín là điều kiện sống còn. Một lần lỡ hẹn thanh toán có thể khiến tiệm mất nguồn hàng từ cả một bang.

Hôm nay: con cháu đi đâu, tiệm cũ còn gì

Từ cuối thế kỷ 20, con cháu nhiều gia đình buôn bán người Hoa đi học đại học, làm kỹ sư, bác sĩ, giáo viên, nhân viên văn phòng, hoặc ra nước ngoài. Tiệm cũ có nhà còn người nối nghiệp, có nhà cho thuê mặt bằng, có nhà đóng cửa.

Một số tiệm trăm năm ở Chợ Lớn, Hà Nội, Hội An vẫn mở, giữ tên hiệu cũ, quầy gỗ cũ, cách bán hàng cũ. Những tiệm này là di sản sống của phố, và là nơi người trẻ có thể nghe trực tiếp chuyện nghề từ chủ tiệm.

Với người nghiên cứu hay người đi tìm gốc gia đình, sổ sách, giấy tờ, biển hiệu cũ của tiệm là tư liệu quý. Nếu nhà còn giữ, nên chụp ảnh lưu lại, nhờ người đọc chữ Hán dịch, và ghi lời kể của người lớn tuổi về nghề trước khi những ký ức ấy mất đi.

Câu hỏi thường gặp

Chạp phô là gì?

Chạp phô là cách người Nam Bộ gọi tiệm tạp hoá, đọc theo âm Triều Châu, Quảng Đông của chữ tạp hoá. Tiệm chạp phô ngày trước có ở hầu hết các chợ quê, bán đủ thứ từ dầu, muối, nước mắm đến vải, kim chỉ, thường cho mua chịu.

Có đúng là người Hoa giỏi buôn bán bẩm sinh không?

Không. Việc nhiều gia đình người Hoa làm nghề buôn là do hoàn cảnh lịch sử: đến như thương nhân hoặc người không có ruộng, có mạng đồng hương và tổ chức bang giúp học việc, hùn vốn. Người Hoa cũng làm đủ mọi nghề khác, và nhiều dân tộc khác cũng buôn bán giỏi.

Chợ Bình Tây do ai xây?

Chợ Bình Tây được thương gia Quách Đàm, một người Hoa ở Chợ Lớn, bỏ vốn xây vào cuối thập niên 1920. Chợ đến nay vẫn là một trong những chợ đầu mối lớn của TP.HCM và là công trình tiêu biểu của khu Chợ Lớn.

Phố thuốc bắc ở TP.HCM nằm ở đâu?

Phố thuốc bắc tập trung quanh đường Hải Thượng Lãn Ông và các phố lân cận ở khu Chợ Lớn, thuộc quận 5 cũ. Đi buổi sáng sẽ thấy cảnh phơi, phân loại, đóng gói dược liệu; nên đi bộ, tránh dừng xe chắn lối các tiệm đang bốc hàng.

Vì sao nhiều nhà máy xay gạo xưa nằm dọc kênh Tàu Hũ?

Kênh Tàu Hũ nối Chợ Lớn với sông Sài Gòn và mạng kênh rạch miền Tây. Ghe chở lúa từ các tỉnh đi thẳng vào kênh, dỡ hàng vào nhà máy xay, rồi gạo được chở tiếp ra cảng. Vị trí ấy giúp tiết kiệm chi phí vận chuyển trong thời đường thủy là chính.

Nhà có sổ sách tiệm buôn cũ bằng chữ Hán thì nên làm gì?

Nên giữ nơi khô ráo, chụp ảnh từng trang, rồi nhờ người đọc được chữ Hán, nhất là chữ viết tay kiểu sổ sách, giúp đọc. Các sổ này ghi tên hiệu, tên người, quê quán, quan hệ buôn bán, là nguồn quý để tìm gốc gia đình và hiểu lịch sử nghề.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.