Gia đình Hoa – Việt giữ hai nếp nhà thuận lợi hơn nhiều người nghĩ, vì hai bên dùng chung âm lịch, cùng thờ cúng tổ tiên và cùng coi trọng Tết; chỗ khác chủ yếu nằm ở món ăn, cách thờ, ngày tưởng nhớ người mất, cách xưng hô và vài lễ riêng như Thanh Minh, Đông Chí. Cách làm phổ biến là chọn giữ điều mỗi bên coi trọng nhất, bàn sớm với cha mẹ hai bên, và để con cái lớn lên biết cả hai.
Ở TP.HCM và các tỉnh miền Tây, gia đình có một bên gốc Hoa, một bên người Việt đã có từ nhiều thế hệ, nhiều nếp đã hoà vào nhau đến mức khó tách. Bài này dành cho những gia đình mới: vợ hoặc chồng người Việt về nhà gốc Hoa, hoặc ngược lại, muốn biết nên giữ gì, đổi gì, bàn thế nào.
Hai nếp nhà giống và khác ở đâu
Bảng dưới đặt cạnh nhau những điểm thường gặp trong gia đình người Hoa và người Việt Nam Bộ. Không nhà nào giống hệt khung này, nhưng nó giúp hai bên biết nên hỏi nhau điều gì.
| Việc | Nếp thường gặp ở nhà gốc Hoa | Nếp thường gặp ở nhà người Việt |
|---|---|---|
| Tưởng nhớ người mất | Dồn vào Thanh Minh, Tết, tháng Bảy; ngày mất thắp nhang | Làm giỗ đúng ngày mất, có cỗ, mời họ hàng |
| Bàn thờ | Bài vị chữ Hán, thờ chung theo họ; có nơi thờ Môn thần, Thổ địa | Ảnh người mất, bát hương từng người; bàn thờ Ông Địa, Thần Tài |
| Món Tết | Bánh tổ, bánh củ cải, gà luộc, heo quay, cá hấp | Bánh tét hoặc bánh chưng, thịt kho trứng, dưa món |
| Thứ tự thăm Tết | Con gái về nhà mẹ đẻ mùng Hai | Mùng Một nhà nội, mùng Hai nhà ngoại |
| Lễ riêng | Đông Chí, mùng Bảy nhân nhật, Thanh Minh cả họ | Tết Hàn thực, cúng đình, giỗ tổ nghề |
| Cưới hỏi | Sính lễ kiểu quá đại lễ, an sàng, dâng trà | Dạm ngõ, ăn hỏi trầu cau, lễ gia tiên |
| Xưng hô trong họ | Phân biệt rất kỹ bên nội, bên ngoại, anh hay em của cha mẹ | Cũng phân biệt nhưng ít tầng hơn |
Điểm giống quan trọng nhất là cả hai đều coi gia đình nhiều thế hệ là trung tâm. Khi nhớ điều đó, các khác biệt về món ăn hay ngày giỗ trở thành chuyện kỹ thuật, không phải chuyện ai đúng ai sai.
Giỗ hay Thanh Minh: chỗ dễ vướng nhất
Với nhà người Việt, ngày giỗ là ngày quan trọng: con cháu về đông đủ, có cỗ, mời họ hàng, hàng xóm. Với nhiều nhà người Hoa, ngày mất chỉ thắp nhang, nấu vài món người mất thích; việc tưởng nhớ cả họ để dành cho Thanh Minh. Khi con dâu người Việt về nhà chồng gốc Hoa, hoặc con rể người Hoa về nhà vợ người Việt, khác biệt này thường lộ ra ở năm đầu: một bên thấy bên kia "làm lớn quá", bên này thấy bên kia "lơ là".
Cách nhiều gia đình đã làm là giữ cả hai mà không bắt bên nào theo bên nào. Giỗ bên nội người Hoa vẫn làm nhẹ theo nếp nhà nội, nhưng con dâu người Việt có thể nấu thêm vài món và mời các cô chú bên chồng đến ăn; Thanh Minh thì cả nhà cùng đi tảo mộ bên nội. Giỗ bên ngoại người Việt thì cả nhà về làm cỗ, chồng gốc Hoa đến sớm phụ việc, thắp nhang theo nếp nhà vợ.
Một ví dụ giả định: anh Quang gốc Triều Châu ở TP.HCM lấy chị Hạnh quê Vĩnh Long (nay thuộc tỉnh Vĩnh Long mới). Mỗi năm họ đi tảo mộ bên nội dịp Thanh Minh, về Vĩnh Long dự ba đám giỗ bên ngoại. Năm đầu, mẹ anh Quang ngạc nhiên vì con dâu xin nghỉ để về giỗ "ông cố" mà bà chưa từng nghe tên; đến năm thứ ba, chính bà là người nhắc con dâu chuẩn bị về quê.
Bàn thờ trong nhà: thờ ai, đặt thế nào
Khi một cặp Hoa – Việt ra ở riêng, câu hỏi đầu tiên thường là có lập bàn thờ không và thờ ai. Theo nếp truyền thống của cả hai bên, bàn thờ tổ tiên đặt ở nhà con trai trưởng; các nhà khác thờ ông bà theo nhu cầu. Nếu người chồng gốc Hoa không phải con trưởng, nhiều gia đình chỉ đặt bàn thờ Phật hoặc ảnh ông bà nhỏ, không lập bài vị.
Cách thờ cũng khác: nhà người Hoa thường có bài vị bằng gỗ ghi tên các đời bằng chữ Hán, có khi thờ chung cả họ trong một bài vị lớn; nhà người Việt thường đặt ảnh từng người, bát hương riêng. Trong gia đình hai nếp, nhiều nhà đặt chung ảnh ông bà hai bên trên cùng một bàn thờ, hoặc hai bàn thờ nhỏ cạnh nhau, tuỳ không gian.
Điều cần bàn trước là ai giữ bài vị, ai lo nhang đèn ngày rằm, mùng Một, và khi gia đình chuyển nhà hay ra nước ngoài thì xử lý bàn thờ thế nào. Các cụ hai bên thường có ý kiến khác nhau; nghe cả hai, rồi vợ chồng tự quyết theo điều kiện thật của mình, là cách được nhiều gia đình chọn.
Xưng hô và tiếng nói trong nhà
Hệ xưng hô họ hàng của người Hoa rất chi tiết: anh của cha, em của cha, chồng của cô, anh của mẹ đều có tên gọi riêng. Ở TP.HCM, nhiều gia đình người Hoa dùng lẫn tiếng Việt với vài từ phương ngữ quen thuộc: gọi ông nội là "a cúng", bà nội là "a mà", anh là "a hia", chị là "a chế", em gái là "a muội", tuỳ nhà nói tiếng Quảng hay tiếng Triều Châu. Người Việt mới về làm dâu, làm rể thường lúng túng nhất ở phần này.
Cách nhẹ nhàng là nhờ vợ hoặc chồng viết ra một danh sách: tên từng người trong họ, quan hệ, cách gọi bằng phương ngữ và cách gọi tiếng Việt tương ứng. Các cụ thường rất vui khi con dâu, con rể người Việt gọi đúng một hai danh xưng bằng tiếng Hoa, dù phát âm chưa chuẩn.
Với con cái, câu hỏi lớn là có giữ tiếng Hoa không. Nhiều gia đình hai nếp chọn cho con nói tiếng Việt là chính, học thêm tiếng Phổ thông ở trường hoặc lớp cuối tuần, và nghe tiếng Quảng, tiếng Triều Châu từ ông bà. Kinh nghiệm cho thấy trẻ giữ phương ngữ tốt nhất khi có người lớn nói với trẻ hằng ngày, không phải khi chỉ học ở lớp. Phần này được bàn kỹ hơn ở các bài về tiếng nói và chữ viết trên trang.
Tết, cưới, sinh con: những mốc cần bàn trước
Tết về nhà ai trước. Lịch thăm Tết của nhà người Hoa và người Việt có thể khớp: giao thừa và mùng Một ở nhà nội, mùng Hai về ngoại. Nếu hai nhà ở xa nhau, bàn từ tháng Chạp, xếp lịch xe cộ cho cả nhà. Cũng nên thống nhất có ăn mùng Bảy nhân nhật và rằm tháng Giêng ở nhà nội không.
Đám cưới. Đám cưới Hoa – Việt thường kết hợp: ăn hỏi theo nếp nhà gái, dâng trà theo nếp Hoa, lễ gia tiên theo nếp Việt, tiệc chung. Bài riêng về đám cưới người Hoa trên trang đi kỹ hơn từng lễ.
Đặt tên con. Nhiều gia đình đặt cho con tên Việt trên giấy khai sinh và một tên chữ Hán theo thế thứ của dòng họ bên nội, ghi trong gia phả. Bàn trước với ông bà nội về chữ lót theo đời để con không bị lệch thế thứ trong họ.
Đầy tháng, thôi nôi. Hai nếp gần nhau: trứng đỏ, gừng giấm của nhà Hoa đi cùng xôi chè, mâm cúng mụ của nhà Việt. Đây là dịp hai bên ông bà dễ cùng làm nhất.
Khi có tang. Khi một bên có tang, cả nhà cùng để tang theo nếp của bên có người mất. Người con dâu, con rể nên hỏi trước mặc gì, đứng đâu, làm gì trong lễ, vì đây là lúc ít ai có thời gian giải thích.
Bếp hai nếp: nơi hai bên gặp nhau dễ nhất
Trong gia đình Hoa – Việt, bếp thường là nơi hai nếp hoà vào nhau sớm nhất và tự nhiên nhất. Mâm cơm ngày thường có thể có canh chua cá lóc của bên ngoại cạnh món đậu hũ dồn thịt, cải xào dầu hào của bên nội; nước mắm và xì dầu cùng đứng trên kệ. Trẻ con lớn lên ăn cả hai mà không cần ai giải thích món nào là của ai.
Ngày lễ thì sự kết hợp rõ hơn. Tết có thể có cả bánh tét lẫn bánh tổ, thịt kho trứng cạnh gà luộc kiểu Quảng; rằm tháng Giêng có chè trôi nước kiểu Việt cạnh thang viên nhỏ nước đường gừng; Đông Chí, một dịp nhà người Việt không làm, trở thành dịp con dâu, con rể người Việt học nặn bánh với mẹ chồng, mẹ vợ. Nhiều người kể rằng chính những buổi nấu chung ấy giúp họ hiểu nhà bên kia nhanh hơn mọi cuộc nói chuyện.
Một việc nhỏ nhưng đáng làm là ghi lại công thức của ông bà hai bên: món bà nội gốc Hẹ làm dịp Tết, món bà ngoại miền Tây nấu ngày giỗ. Ghi bằng tiếng Việt, kèm tên món bằng chữ Hán nếu có, và ảnh chụp từng bước. Sau vài năm, cuốn sổ ấy thành tài liệu gia đình mà con cháu, nhất là những đứa sống ở nước ngoài, sẽ tìm đến khi muốn nấu lại món của ông bà.
Khi gia đình Hoa – Việt sống ở nước ngoài
Nhiều gia đình Hoa – Việt hiện sống ở Mỹ, Úc, Canada, Pháp, Đài Loan, Singapore. Ở đó họ có thêm nếp thứ ba: lịch làm việc, ngày nghỉ, cách tổ chức của nước sở tại. Tết rơi vào ngày đi làm, Thanh Minh không có mộ để thăm, con cái nói tiếng Anh, tiếng Pháp ở trường. Kinh nghiệm chung là giữ ít lễ hơn nhưng làm đều đặn: Tết, Trung Thu, một hai ngày giỗ hoặc Thanh Minh tại nhà.
Ở các thành phố có cộng đồng người Hoa và người Việt đông, gia đình hai nếp có lợi thế: con có thể đi cả chùa người Việt, hội quán người Hoa, phố người Hoa và khu chợ Việt. Trẻ lớn lên thấy cả hai cộng đồng là của mình, không phải chọn một. Nhiều cha mẹ kể rằng chính khi ra nước ngoài, họ mới thấy hai nếp nhà Hoa và Việt gần nhau đến thế, vì so với nếp nước sở tại, hai bên giống nhau nhiều hơn khác.
Một việc thực tế nên làm sớm là ghi lại nếp nhà của cả hai bên: ngày giỗ, ngày Thanh Minh của họ, món ăn từng dịp, cách xưng hô, quê gốc. Khi ông bà ở Việt Nam còn khoẻ, một buổi ngồi hỏi và ghi chép có giá trị hơn nhiều so với việc đi tìm lại thông tin sau này.
Câu hỏi thường gặp
Con dâu người Việt có phải theo hết nếp nhà chồng gốc Hoa không?
Không có quy định nào bắt buộc. Phần lớn gia đình ngày nay mong con dâu tôn trọng và tham gia các dịp lớn như Tết, Thanh Minh, lễ dâng trà, còn những chi tiết nhỏ thì linh hoạt. Hỏi mẹ chồng hoặc chồng trước mỗi dịp là cách tránh hiểu lầm hiệu quả nhất.
Nhà người Hoa có làm giỗ không hay chỉ đi Thanh Minh?
Có làm, nhưng thường nhẹ hơn nhà người Việt: thắp nhang, nấu món người mất thích, con cháu gần nhà ghé qua. Một số gia đình người Hoa sống lâu ở Nam Bộ đã làm giỗ đầy đủ như người Việt, nên tuỳ từng nhà.
Con cái gia đình Hoa – Việt ghi dân tộc gì trên giấy tờ?
Theo quy định hiện hành, dân tộc của con được xác định theo dân tộc của cha hoặc mẹ, theo thoả thuận của cha mẹ khi làm khai sinh. Chi tiết thủ tục nên hỏi UBND cấp xã nơi đăng ký khai sinh và xem bài về giấy tờ gia đình Hoa – Việt trên trang.
Có nên dạy con tiếng Hoa nếu cha mẹ không nói giỏi?
Nên, nếu gia đình muốn con giữ gốc. Cách hiệu quả là để ông bà, họ hàng nói với con hằng ngày, kết hợp lớp học cuối tuần. Cha mẹ không nói giỏi vẫn có thể học cùng con những câu chúc Tết, xưng hô trong họ.
Hai bên ông bà bất đồng về cách tổ chức lễ thì xử lý thế nào?
Vợ chồng nên nghe riêng từng bên để biết điều mỗi bên coi trọng nhất, rồi đề xuất cách kết hợp giữ được những điều ấy. Tránh để hai bên ông bà tranh luận trực tiếp trong ngày lễ. Thường mỗi bên chỉ có một hai điểm không muốn bỏ.
Ra nước ngoài sống, gia đình Hoa – Việt nên giữ những lễ nào?
Thường là Tết Nguyên đán, Trung Thu và một dịp tưởng nhớ ông bà, có thể là Thanh Minh hoặc ngày giỗ. Nếu có hội quán người Hoa hoặc chùa người Việt gần nơi ở, cho con tham gia sinh hoạt ở đó sẽ giúp con giữ được cả hai nếp lâu hơn.